Thứ Tư, 16 tháng 3, 2011

Galati 4.1-11: "Sống như Đức Chúa Con"

Tự do thực – Galati
Sống như Đức Chúa Con
Galati 4.1-11
Trẻ con vốn khao khát sự tự do. Khi tôi còn trẻ, tôi cứ đợi mình sẽ lớn lên. Tôi muốn có chiếc xe hơi riêng, một công việc làm tốt có lương khá, có nhà riêng và sự tự do muốn làm điều chi tôi muốn làm bất cứ khi nào tôi muốn làm điều đó. Tôi không muốn ai bảo tôi mấy giờ phải đi ngủ, mấy giờ phải thức dậy, phải ăn cái gì, phải mặc gì và phải làm gì. Tôi ao ước muốn được tự do. Trong suốt các năm tháng thiếu thời, bố mẹ tôi luôn kiểm soát tôi cách chặt chẽ. Họ không để cho tôi phóng túng quá, nhưng cứ dành cho tôi thêm tự do trong các liều lượng nhỏ mà thôi. Khi tôi lên 18 tuổi và tốt nghiệp trung học xong, mối quan hệ của chúng tôi đà thay đổi. Thay vì nói cho tôi biết mấy giờ phải về nhà, họ yêu cầu tôi phải hoạch định giờ nào phải về tới nhà. Thay vì nói cho tôi biết phải làm gì, họ bảo tôi điều chi là khôn ngoan nhất nên làm. Khi tôi lớn lên ở độ tuổi trưởng thành, bố mẹ tôi thôi không còn đối xử với tôi như một đứa trẻ nữa.
Giờ đây, tôi là một người lớn với mọi quyền tự do và trách nhiệm của một người lớn, giờ đây tôi đang có gia đình riêng, thật là dại dột cho tôi khi phải quay trở lại sống như một đứa trẻ. Có một loạt quảng cáo thương mại trên TV cho Holiday Inn trong đó có một thanh niên chưa trưởng thành, anh nầy vẫn sống với bố mẹ mình, cứ luôn đòi họ chu cấp cho mình mọi thứ xa hoa. Họ luôn luôn bật cười và nói: “Con nghĩ Holiday Inn là gì chứ?" Hãy tưởng tượng việc quay trở lại với ngôi nhà của bố mẹ mình xem, yêu cầu họ cho phép mọi sự và mong đợi họ tiếp trợ cho tôi Một người lớn có đủ tầm thước vóc giạc muốn sống giống như một đứa trẻ, họ là hạng người lớn đủ như một nỗi xấu hổ cho bố mẹ của mình.
Nói theo cách thuộc linh, đấy chính xác là những gì các tín hữu thành Galati đang làm. Phaolô nói trong câu 11: "Tôi lo cho anh em, e tôi đã làm việc luống công giữa anh em". Ông thấy xấu hổ về cách thức họ đang sinh sống. Họ là những con trai con gái của Đức Chúa Trời đã trưởng thành đủ, nhưng họ đang sống giống như con trẻ thuộc linh bởi cách cố gắng giữ giới luật: "ngày tháng, mùa, năm" (câu 10).
Nói theo cáh thuộc linh, có nhiều Cơ đốc nhân ngày nay mong muốn sống như con trẻ vậy. Thay vì vui hưởng địa vị của mình là “con trai” đã trưởng thành của Đức Chúa Trời, thay vì vui hưởng sự giàu có thuộc linh của mình là “kẻ kế tự”, thay vì theo đuổi mối quan hệ mật thiết với Đức Chúa Trời đang sẵn có vì sự ban cho của "Đức Thánh Linh" trong tấm lòng của họ, họ lại hài lòng với xu hướng tuân theo lề luật của tôn giáo, vâng giữ các luệt lệ, nghi thức, và điều lệ nhất định nào đó. Buồn thay, họ đang đổi sự sống đầy dẫy Đức Thánh Linh để lấy thứ tôn giáo không có sự sống.
Trong phân đoạn Kinh Thánh nầy, chúng ta sẽ tóm tắt sự dạy của Phaolô theo cách nầy: "Chúng tôi từng là con trẻ, chẳng khác gì hơn hạng nô lệ. Giờ đây, chúng tôi là con trai con gái đủ trưởng thành và là kẻ kế tự của Đức Chúa Trời. Thế thì làm sao chúng tôi sẽ quay trở lại với cuộc sống như con trẻ cho được?"
Chúng ta hãy chú ý hai lẽ thật về chúng ta là ai và chúng ta hiện là ai trong Đấng Christ và kế đó hãy xem xét lời khuyên dạy của vì sứ đồ.
I. QUÁ KHỨ CỦA CHÚNG TA. Chúng ta là con trẻ và là nô lệ (các câu 1-3).
A. Con trẻ sống trong vòng nô lệ y như hạng nô lệ (các câu 1-2).
Phaolô bắt đầu chương 4 bằng cách nói: "Vả, tôi nói rằng người kế tự dầu là chủ của mọi vật, mà đang còn thơ ấu, thì chẳng khác chi kẻ tôi mọi". Vị sứ đồ đang đưa ra một hình ảnh, đang tô vẽ một bức tranh mang tính ẩn dụ các tín đồ Galati có thể nhận ra dễ dàng.
Hãy tưởng tượng một thiếu niên, cậu ta là kẻ kế tự một địa vị lớn lao giàu có kếch xù. Trên nguyên tắc, mọi sự thuộc về cha nó sẽ thuộc về nó. Trên thực tế, cậu ta vẫn là một "đứa trẻ" và chẳng khác gì một "tôi mọi". Người ta sẽ bảo nó lúc nào thì đi ngủ, giờ nào phải thức dậy, ăn cái gì và phải làm gì. Mặc dầu "người kế tự là chủ của mọi vật" cậu ta vẫn còn bị đối xử giống như một tôi mọi. Cậu ta chỉ là một kẻ kế tự de jure, chớ không phải kẻ kế tự defacto. Cậu ta là kẻ kế tự bởi quyền theo luật pháp chớ thực tế chưa phải là kẻ kế tự.
Phaolô nói thêm rằng kẻ kế tự: "phải ở dưới quyền kẻ bảo hộ và kẻ coi giữ, cho đến kỳ người cha đã định". Như chúng ta đã nghiên cứu ở chương 3, các gia đình giàu có thường giao thác phần dạy dỗ và kỷ luật con cái của họ cho hạng tôi mọi có ăn học, ai cũng biết họ là "kẻ bảo hộ và kẻ coi giữ”. Trẻ con hoàn toàn ở dưới uy quyền của họ và không dám làm một việc gì nếu chẳng có phép của họ và không thể đi đâu nếu chẳng có họ đi kèm. Theo một ý nghĩa thực sự, "người kế tự dầu là chủ của mọi vật, mà đang còn thơ ấu" thì chẳng khác chi "kẻ tôi mọi". Thực vậy, người đã sống dưới quyền của một tôi mọi.
Tuy nhiên, "cho đến kỳ người cha đã định" địa vị của đứa trẻ hoàn toàn thay đổi. Người không còn là kẻ kế tự de jure, một kẻ kế tự trên nguyên tắc, mà là một kẻ kế tự de facto, một kẻ kế tự trên thực tế. Người đã tấn tới từ thời kỳ con trẻ đến thời kỳ trưởng thành. Các thiếu niên Do thái được coi là người lớn vào ngày sabát đầu tiên sau ngày sinh nhựt thứ 12. Đây là điểm đánh dấu sự trưởng thành. Người Hy lạp đã tổ chức kỷ niệm thời kỳ trưởng thành ở tuổi 18. Người La mã nhìn biết rằng không phải hết thảy các đứa trẻ đều trưởng thành ở cùng một cấp độ, cho nên họ chọn tuổi trưởng thành nằm giữa 14 và 17. Người Hy lạp sẽ cắt bỏ mái tóc mọc dài suốt thời thơ ấu. Người La mã sẽ thiêu đốt các thứ đồ chơi thời thơ ấu. Phaolô đề cập tới vấn đề nầy trong I Côrinhtô 13.11: "…khi tôi đã thành nhơn bèn bỏ những điều thuộc về con trẻ". Người La mã cũng dành cho kẻ thành nhơn một chiếc áo choàng mới màu trắng. Nghi thức được gọi là toga virilis.
Vì lẽ đó, là một đứa trẻ, "người kế tự dầu là chủ của mọi vật, mà đang còn thơ ấu, thì chẳng khác chi kẻ tôi mọi”, "cho đến kỳ người cha đã định" người nằm lấy địa vị của mình là kẻ kế tự hợp pháp cơ nghiệp của cha mình và sống phần đời còn lại trong sự tự do vinh hiển và là một người con đã trưởng thành.
B. Là những người chưa tin Chúa, chúng ta sống trong vòng nô lệ cho các lề thói của thế gian (câu 3).
Bây giờ, vì sứ đồ đưa ra phần ứng dụng cho minh hoạ của mình. Ông nói: "Cũng như vậy" hay cũng một thể ấy, "chúng ta… khi còn thơ ấu …phải phục dưới các lề thói của thế gian". Do sự biết trước của Đức Chúa Trời, chúng ta từng là “kẻ kế tự” của Ngài dẫu khi chúng ta là con cái bị hư mất và là nô lệ cho tội lỗi. Chúng ta học biết rằng luật pháp và ao ước muốn sống nhơn đức của chúng ta giống như "kẻ bảo hộ và kẻ coi giữ".
Chúng ta bị trói buộc bởi các "lề thói [những việc cơ bản] của thế gian". Chữ lề thói ra từ chữ Hy lạp có ý nói tới thứ hạng hay đẳng cấp với ý nghĩa thứ bậc trên dưới, trước sau. Chữ nầy được dùng để mô tả các âm trong mẫu tự, ABC…, thứ tự của chữ viết.
Phaolô không nói cho chúng ta biết chính xác "các lề thói của thế gian" là những gì!?! Một số học giả Kinh Thánh cho chỗ nầy có ý nói tới các tà linh. Nhiều người khác cho đây là hệ thống chiêm tinh của tà giáo. Tuy nhiên, tôi đồng ý với những ai nói rằng chữ nầy có ý nói tới “các lề thói” tôn giáo của con người, giáo dục cơ bản của dân sự Đức Chúa Trời. J.B. Phillips dịch lề thói nầy là "các nguyên tắc đạo đức cơ bản".
Phaolô cảnh cáo các tín hữu người thành Côlôse: "Hãy giữ chừng, kẻo có ai lấy triết học và lời hư không, theo lời truyền khẩu của loài người, sơ học của thế gian, không theo Đấng Christ, mà bắt anh em phục chăng" (Côlôse 2.8).
Trước khi tôi được cứu, tôi đã sống "phục theo các lề thói của thế gian". Tôi đã cố gắng sống thật nhơn đức. Thậm chí tôi đã sống rất tôn giáo nữa. Nhưng bất luận tôi đã cố gắng khó nhọc ngần nào, tôi không hề đạt tới đích. Tôi giáo, nghi thức, và các việc lành là những lề thói cho thấy họ là con người, họ không bao giờ với tới cấp độ của Đức Chúa Trời được.
Câu chuyện kể về John Wesley thường được người ta thuật lại. Ông là một sinh viên tốt nghiệp đại học Oxford và là một Mục sư của Hội thánh Anh quốc. Ông đã dâng đời sống mình phục vụ Đức Chúa Trời và con người. Ông đã lao động với tù phạm và người nghèo. Ông đã phụ giúp cho trẻ con thiếu đói có bánh ăn áo mặc. Ông đã ngihên cứu Kinh Thánh và dự hết các buổi nhóm thờ phượng ở nhiều nhà thờ. Ông đã bố thí thật rời rộng, đã cầu nguyện, kiêng ăn và sống một đời sống gương mẫu. Chẳng có điều gì làm cho ông thấy thoả lòng. Sau cùng, ông đã đến nước Mỹ rồi lao động giữa vòng người da đỏ, là bộ tộc khi ấy và bây giờ đã sống ở bang Georgia. Ông đã xưng nhận trong tạp chí của mình: "Tôi là người đến nước Mỹ để làm cho nhiều người được biến đổi, song bản thân tôi chưa hề được biến đổi". Sau cùng, ông đã gặp một nhóm tín hữu chân chính đã hướng dẫn ông biết tin cậy hoàn toàn nơi một mình Chúa Jêsus để được cứu rỗi. Ông đã trở thành một nhà cải chánh và là một trong những nhà truyền đạo lỗi lạc nhất trong lịch sử. Khi viết về thời kỳ sớm sủa nầy trong đời sống ông, ông nói: "Tôi đã có đức tin của một tôi tớ, không phải đức tin của một con cái".
II. HIỆN TẠI CỦA CHÚNG TA. Chúng ta là con cái và là kẻ kế tự (các câu 4-7).
A. Đức Chúa Trời sai Con của Ngài đến để biến chúng ta thành hạng con cái (các câu 4-5).
Thứ nhứt, hãy chú ý Đức Chúa Trời đã sai phái Con Ngài vào LÚC NÀO. Phaolô nói: "Nhưng khi kỳ hạn đã được trọn, Đức Chúa Trời bèn sai Con Ngài". Khoảng 2.000 năm đã trôi qua kể từ khi Đức Chúa Trời ban ra lời hứa của Ngài cho Ápraham. Trong khoảng 1.300 năm, Israel đã vật vã dưới luật pháp của Đức Chúa Trời. Sau cùng, "khi kỳ hạn đã được trọn" hay đúng thời điểm đã đến cho Đức Chúa Trời bày tỏ ra cho thế gian theo phần xác thể, qua Con của Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ.
Có vài yếu tố đánh dấu "kỳ hạn" thời điểm Đức Chúa Trời sai phái Chúa Jêsus vào trong thế gian. Thứ nhứt, Rôma đã chinh phục vùng đất có dân ở thời bấy giờ và đã tạo ra được pax Romana, sự hoà bình của người La mã cung ứng tình trạng ổn định về mặt xã hội. Người La mã cũng xây dựng một hệ thống giao lộ rất tinh vi đã giúp cho Tin lành được truyền bá cách dễ dàng. Thứ hai, nhờ Alexander Đại Đế, văn hoá và ngôn ngữ Hy lạp đã thống nhất thế giới. Tin lành có thể được truyền bá và Tân Ước đã được viết ra bằng một thứ ngôn ngữ. Thứ ba, qua cuộc phu tù cho người Babylôn, người Do thái đã quên hẳn sự thờ lạy hình tượng một lần đủ cả. Luật pháp đã sửa soạn nhiều người trong số họ biết đến Đấng Mêsi của mình. Họ đa xây dựng một hệ thống nhà hội đóng vai trò khuôn mẫu nền tảng cho các Hội thánh và là điểm khởi đầu cho công cuộc truyền giáo. Thời điểm của Đức Chúa Trời là trọn vẹn!
Thứ hai,hãy chú ý Đức Chúa Trời sai phái Con Ngài đến BẰNG CÁCH NÀO. Chúa Jêsus đã được "sai… bởi một người nữ sanh ra". Ngài là Con của Đức Chúa Trời nhưng cũng là con của mẹ Ngài. Ngài có nhân tính cũng như có thần tính. Ngài là Người-Trời. Không những Chúa Jêsus "bởi một người nữ sanh ra" mà Ngài còn "sanh ra dưới luật pháp" nữa. Ngài chào đời cho một người mẹ Do thái dưới luật pháp của người Do thái.
Nhà truyền đạo lỗi lạc Charles Spurgeon nhìn vào tầm quan trọng của sựhoá thân thành nhục thể của Chúa Jêsus.
Đấng Vô hạn, lại là một con trẻ.
Đấng đời đời, lại sanh ra bởi một người nữ.
Đấng Toàn Năng, lại bám vào ngực của một người đờn bà.
Nâng đỡ cả vũ trụ, mà lại cần đôi tay của người mẹ ẳm bồng.
Vua của các thiên sứ, mà lại được coi là con của Giô-sép.
Đấng kế tự muôn vật, mà lại là con trai bị xem khinh của người thợ mộc.
Suốt cuộc đời của Ngài, Ngài đã giữ trọn vẹn luật pháp của Môise. Ngài phán trong Mathiơ 17: "Đừng tưởng ta đến để hủy phá luật pháp hay lời tiên tri. Ta đến không phải để hủy phá mà để làm cho trọn". Chúa Jêsus là Con thật thiêng liêng của Đức Chúa Trời, là Con người có đầy đủ nhân tính, và là Đấng tuân giữ trọn vẹn cả thảy luật pháp của Đức Chúa Trời.
Rôma 8.3-4 chép: "Vì điều chi luật pháp không làm nổi, tại xác thịt làm cho luật pháp ra yếu đuối, thì Đức Chúa Trời đã làm rồi: Ngài đã vì cớ tội lỗi sai chính Con mình lấy xác thịt giống như xác thịt tội lỗi chúng ta, và đã đoán phạt tội lỗi trong xác thịt, hầu cho sự công bình mà luật pháp buộc phải làm được trọn trong chúng ta, là kẻ chẳng noi theo xác thịt, nhưng noi theo Thánh Linh".
Thứ ba, hãy chú ý lý do TẠI SAO Đức Chúa Trời lại sai Con của Ngài đến!?! Phaolô nói trong câu 5, rằng Chúa Jêsus đã đến "để chuộc những kẻ ở dưới luật pháp". "Chuộc" có nghĩa là "mua lấy" hay "mua lại". Từ ngữ nầy được sử dụng nói tới hạng nô lệ sự tự do của họ đã được mua lấy rồi. Chúa Jêsus đã trả giá cao tội lỗi của chúng ta bằng sự hy sinh đổ huyết ra trên thập tự giá. “Chuộc” chúng ta không những là mục đích của Đức Chúa Trời, mà chúng ta còn được "làm con nuôi Ngài" nữa. "Nhận làm con nuôi" tất nhiên có ý nói tới việc ban cho địa vị con cái cho người nào không phải là con ruột của ai đó. Trong thời của Phaolô, thường thì một người giàu có không có con ruột sẽ buông tha cho một nô lệ trẻ tuổi rồi nhận người đó làm con nuôi như con ruột của mình. Đấy là điều mà Đức Chúa Trời đã làm qua Đấng Christ. Chúng ta là hạng nô lệ cho tội lỗi và luật pháp. Đức Chúa Trời đã trả giá cho sự tự do của chúng ta qua huyết đổ ra của Chúa Jêsus rồi nhận chúng ta làm con nuôi đưa vào trong gia đình của Ngài. Ngài đã biến đổi chúng ta từ hạng nô lệ thành ra hạng con cái.
John Stott viết: "Cho nên thần tính của Đấng Christ, nhân tính của Đấng Christ và sự công bình của Đấng Christ đặc biệt khiến Ngài đủ tư cách làm Đấng cứu chuộc của con người. Nếu Ngài không phải là con người, Ngài không thể chuộc được con người. Nếu Ngài không phải là một người công bình, Ngài không thể chuộc được kẻ không công bình. Và nếu Ngài không phải là Con Đức Chúa Trời, Ngài không thể chuộc được con người cho Đức Chúa Trời hay khiến họ thành ra con cái của Đức Chúa Trời được".
B. Đức Chúa Trời sai Thánh Linh Ngài vì chúng ta là con cái (các câu 6-7).
Hãy chú ý hai lần “sai phái”. Thứ nhứt, Đức Chúa Trời sai Con Ngài vào trong thế gian. Thứ hai, Ngài sai "Thánh Linh của Con Ngài" ngự vào lòng chúng ta. Chúa Jêsus đã khiến cho chúng ta thành ra con trai con gái của Đức Chúa Trời. Đức Thánh Linh khẳng định với chúng ta rằng chúng ta quả thực là con trai con gái của Đức Chúa Trời. Phaolô nói "Lại vì anh em là con" nên "Đức Chúa Trời đã sai Thánh Linh của Con Ngài vào lòng chúng ta". Chúng ta có sự hiểu biết về địa vị làm con nhờ Lời của Đức Chúa Trời, tiếp nhận địa vị con cái qua Con của Đức Chúa Trời và sự khẳng định địa vị con cái nhờ Thánh Linh của Đức Chúa Trời.
Nhiều người trong hội chúng của chúng ta đều có con nuôi. Quí vị đã đem những đứa trẻ nhỏ vào trong đời sống của mình và đã cung ứng cho chúng một tình yêu thương, sự tiếp nhận, một ngôi nhà, một gia đình và một tương lai. Quí vị đã cung ứng cho chúng mọi sự mà quí vị có thể cung ứng. Việc duy nhứt quí vị không thể cung ứng cho chúng là một bổn tánh mới. Khi Đức Chúa Trời cho chúng ta làm con nuôi trong gia đình của Ngài, không những Ngài cung cấp cho mỗi nhu cần của chúng ta, mà Ngài còn ban cho chúng ta một bổn tánh mới bằng cách sai Thánh Linh Ngài ngự vào lòng của chúng ta!
Khi Đức Thánh Linh ngự vào lòng chúng ta, Ngài kêu lên: "Aba Cha!" Rôma 8.14-16 tỏ ra cùng một việc như thế: "Vì hết thảy kẻ nào được Thánh Linh của Đức Chúa Trời dắt dẫn, đều là con của Đức Chúa Trời. Thật anh em đã chẳng nhận lấy thần trí của tôi mọi đặng còn ở trong sự sợ hãi; nhưng đã nhận lấy thần trí của sự làm con nuôi, và nhờ đó chúng ta kêu rằng: A-ba! Cha! Chính Đức Thánh Linh làm chứng cho lòng chúng ta rằng chúng ta là con cái Đức Chúa Trời".
"Aba"
là một từ ngữ nhẹ nhàng nói tới "Cha". Đây là một từ nMàu Văn bảngữ rất quen thuộc. Từ nầy phản ảnh cách nói của một đứa trẻ đang rúc vào hông của người cha. Chữ nầy có ý nói tới "Bố" hay "Ba". J.B. Phillips dịch chữ nầy: "Cha, cha yêu dấu ơi".
Chúng ta là gia đình của Đức Chúa Trời. Bởi đức tin chúng ta là con trai con gái của Đức Chúa Trời. Hãy lật Kinh Thánh Tân Ước sang Êphêsô 1.3-7. Ở đây cho thấy chúng ta là ai, là con cái phước hạnh, được chọn, thánh khiết, đã được định trước, được tiêp nhận, được chuộc, được tha tội của Đức Chúa Trời Toàn Năng. Vấn đề ấy là đôi lúc chúng ta có khuynh hướng quên mất chúng ta là ai. Đấy là lý do tại sao Đức Chúa Trời đã sai phái Đức Thánh Linh. Hãy xem qua các câu 13-14.
Đức Chúa Trời đã bảo đảm địa vị làm con của chúng ta bằng cách sai phái Con của Ngài. Đức Chúa Trời bảo đảm địa vị làm con của chúng ta bằng cách sai phái Thánh Linh của Ngài. Con của Ngài mang lấy thân phận địa vị làm con của chúng ta. Thánh Linh của Ngài cung ứng cho chúng ta kinh nghiệm của địa vị làm con đó.
Trong câu 7, Phaolô nhắc cho chúng ta nhớ: "Dường ấy, ngươi không phải là tôi mọi nữa, bèn là con". Trong câu 6 ông nói: "Lại vì anh em là con, nên Đức Chúa Trời đã sai Thánh Linh…". Cho phép tôi đưa ra một lẽ thật tuyệt đối rõ ràng: CHÚNG TA CÓ THÁNH LINH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ CHÚNG TA LÀ CON CÁI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI. Chúng ta không nhận lãnh Đức Thánh Linh bằng cách đọc thuộc lòng một công thức nào đó, chu toàn một điều kiện nào đó hay khao khát một kinh nghiệm cao độ nào đó. Đức Chúa Trời không có người con nào mà chẳng có Thánh Linh của Ngài.
Đức Chúa Trời bảo đảm với chúng ta về mối quan hệ của chúng ta với Ngài, không phải bởi một kinh nghiệm đặc biệt đầy cảm xúc nào đó, mà bởi sự làm chứng thầm lặng ở bên trong của Đức Thánh Linh khi chúng ta tìm kiếm mặt Ngài trong sự cầu nguyện và sự thờ phượng.
Trong câu 7, Phaolô nói thêm như sau: "…và nếu [quí vị là] con, thì [quí vị cũng là] kẻ kế tự bởi ơn của Đức Chúa Trời". Vì chúng ta được làm con nuôi, chúng ta là kẻ đồng kế tự với Chúa Jêsus. Rôma 8.17 chép: "Lại nếu chúng ta là con cái, thì cũng là kẻ kế tự: kẻ kế tự Đức Chúa Trời và là kẻ đồng kế tự với Đấng Christ, miễn chúng ta đều chịu đau đớn với Ngài, hầu cho cũng được vinh hiển với Ngài".
Trước khi chúng ta tiếp tục, hãy gạch dưới cụm từ chìa khoá trong câu 7: "bởi ơn” (bởi Christ, trong bản Kinh Thánh Anh ngữ). Chúng ta là những con trai con gái nuôi của Đức Chúa Trời, chúng ta là kẻ đồng kế tự sự giàu có vô hạn của Cha chúng ta không phải vì chúng ta sống nhơn đức, không phải vì công trạng nào xứng đáng nơi phần của chúng ta, không phải qua bất kỳ một sự thành tựu nào nơi phần của chúng ta, mà "bởi ơn” (bởi Christ). Ấy là bởi ân điển của Đức Chúa Trời, bởi ơn của Ngài ban cho kẻ không xứng đáng nên Ngài đã sai chính Con Ngài đến chịu chết thay cho chúng ta và Thánh Linh của Ngài đến sống trong chúng ta.
III. NGUYÊN TẮC CỦA CHÚNG TA. Hãy nhớ chúng ta là ai (các câu 8-11).
A. Chúng ta thường hầu việc hình tượng (câu 8).
Kế đó, vị sứ đồ nói: "Xưa kia, anh em chẳng biết Đức Chúa Trời chi hết, thì làm tôi các thần vốn không phải là thần". Có bản dịch Kinh Thánh Anh ngữ ghi như sau: "Anh em là nô lệ cho các thần không có thực".
"Các thần không có thực" đó chính là hình tượng. Người dân Ngoại đã từng thờ lạy các hình tượng bằng đá và bằng cây. Người Do thái đã thờ lạy các truyền thống của riêng họ. Quí vị và tôi đã thờ lạy nơi bàn thờ bản ngã. Trước khi chúng ta được cứu, chúng ta đã "chết trong quá phạm và tội ác mình" và đã sống chỉ để làm thoả mãn bản ngã mình mà thôi" (Êphêsô 2.1).
B. Chúng ta không bao giờ xây lại với một đời sống làm tôi mọi nữa (các câu 9-11).
Phaolô nói trong câu 9: "Nhưng hiện nay anh em biết Đức Chúa Trời lại được Đức Chúa Trời biết đến nữa", hiện nay chúng ta không còn là tôi mọi nữa, bèn là con cái: "sao còn trở hướng về lề thói hèn yếu nghèo nàn đó mà suy phục nữa ư?"
Hãy nhớ "các lề thói" có ý nói tới điều cơ bản, bước đầu ABC của tôn giáo. Người thành Galati đã kinh nghiệm sự tự do thuộc linh trong Đấng Christ, nhưng lại chịu ảnh hưởng bởi một số giáo sư người Do thái dạy họ phải tuân giữ luật lệ, nội quy, nghi thức của Do thái giáo. Phaolô lưu ý trong câu 10: "Anh em còn giữ ngày, tháng, mùa, năm ư?" Giống như vị sứ đồ đang nói: "Đức tin của anh em đã xuống thấp thành xu hướng thiên về với luật pháp khô khan, chết tiệt. Sự tự do và niềm vui mừng của sự mật thiết mà con cái có với cha của chúng ở đâu? Anh em đã làm cho mối quan hệ của mình với Đức Chúa Trời rút lại thành việc tuân giữ một số điều luật mà thôi".
Tuần lễ nầy, vợ tôi có việc ra khỏi thành phố mấy ngày. Tôi quyết định đề ra một số luật lệ thông thường trong gia đình và có một số cuộc vui đùa với mấy đứa con gái của tôi. Tôi đưa chúng đến trường rồi đến trưa thì đón chúng về. Chúng tôi đi ra ngoài ăn trưa, chất đống mấy cái đĩa trong chậu rồi đi ngũ trưa. Một vị chấp sự đến làm rộn phá giấc ngủ của chúng tôi! Chúng tôi đã vui đùa. Chúng tôi có thì giờ ở tiêng tư với nhau. Chúng tôi cùng nhau tận hưởng một thời gian thật là đặc biệt. Chúng tôi rất vui sướng khi mẹ chúng về tới nhà (và các thứ luật lệ quay trở lại có hiệu lực như cũ), nhưng chúng tôi đã vui hưởng một thời gian bố/con với nhau thật là đặc biệt.
Đấy là cách Đức Chúa Trời muốn chúng ta gắn bó với Ngài. Với sự vùa giúp của Đức Thánh Linh chúng ta cần phải cầu nguyện "Aba, Cha". Chúng ta cần phải cầu nguyện với Ngài luôn luôn, với sự nhìn biết Ngài đang nghe và chăm sóc chúng ta trong từng nhu cần của chúng ta. Đức Chúa Trời mong chúng ta VUI HƯỞNG mối tương giao với Ngài, chớ không phải CHỊU ĐỰNG mối tương giao đó!
Một lý do cho thấy có nhiều Cơ đốc nhân dường như quá kiệt quệ và nhiều Hội thánh dường như quá nguội lạnh, ấy là đức tin của chúng ta không còn sống động nữa. Chúng ta quá bận rộn lo tuân giữ "ngày tháng mùa năm", lo tuân giữ truyền thống, diện mạo bề ngoài của mình, chúng ta đã quên đi niềm vui của cuộc hành trình với Chúa Jêsus.
Một cô bé kia từ lớp trường Chúa nhựt trở về nhà, nó học ở đó câu: "Sự sáng các ngươi hãy soi trước mặt người ta như vậy, đặng họ thấy những việc lành của các ngươi, và ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời". Nó hỏi mẹ nó, khi lặp lại câu Kinh Thánh ấy, câu Kinh Thánh muốn nói điều gì!?! Mẹ nó đáp: "Câu Kinh Thánh ấy nói rằng khi con sống tử tế, hiền lành, biết suy nghĩ và vâng lời, con đang để cho sự sàng của Đấng Christ chiêu sáng cuộc đời của con trước mặt hết thảy những ai quen biết con". Qua Chúa nhựt tới trong lớp Trường Chúa Nhật, bé gái ấy có một cuộc cão lộn ầm ĩ với một học viên khác rồi tạo ra một sự náo động. Giáo viên đứng lớp phải đi tìm mẹ nó. Mẹ nó có lòng quan tâm, bà chạy tới lớp học rồi nói: "Sweetie, con không nhớ về việc để cho sự sáng của con soi rọi cho Chúa trước mặt loài người sao?" Đứa bé gái ấy thổn thưc: "Mẹ ơi, con đã để lộ cái tôi của mình ra rồi". Nhiều người trong chúng ta đã làm y như thế. Trong mối giao thông của chúng ta với Đấng Christ, sự sáng của chúng ta đã chiếu ra.
Sau cùng, Phaolô nói với người Galati: "Tôi lo cho anh em, e tôi đã làm việc luống công giữa anh em". Đúng là một lời phê phán đáng buồn làm sao! Là một Mục sư, tôi hiểu mọi cảm xúc của Phaolô. Ông đã cầu thay cho họ, đã giảng đạo cho họ nghe và đã yêu thương họ với cả mạng sống của mình, nhưng ông lại sợ rằng họ đã quên mất mục tiêu rồi.
Có nhớ câu chuyện nói về Đứa con hoang đàng trong Luca 15 không? Khi nó tỉnh ngộ, nó bèn trở về với cha mình rồi nói: "Con không xứng đáng được gọi là con của cha nữa. Xin kể con là một tôi tớ của cha vậy" hay là hàng nô lệ. Thật là dại dột làm sao khi có ai đó nói với Đức Chúa Trời như vầy: "Dầu Ngài đã kể tôi là con, tôi muốn làm nô lệ của Ngài hơn". Khi nói quí vị không xứng đáng làm con trai con gái của Đức Chúa Trời là một việc, còn nói quí vị không ao ước điều đó là một việc hoàn toàn khác.
Cho phép tôi cung ứng coh quí vị ba chìa khoá giữ quí vị không quay trở lại với tình trạng làm tôi mọi.
Thứ nhứt, hãy để thì giờ ra với Ngôi Lời mỗi ngày. Tôi biết nói thì dễ lắm, nhưng làm mới thực là khó. Lời Chúa là chiếc la bàn sẽ nhắc cho quí vị nhớ mỗi ngày quí vị là ai trong Đấng Christ. Thánh Linh của Đức Chúa Trời sẽ sử dụng Lời Đức Chúa Trời để khẳng định với quí vị địa vị của quí vị chính là Con Cái của Đức Chúa Trời.
Thứ hai, hãy cầu nguyện không thôi. I Têsalônica 5.17 chép: "Cầu nguyện không thôi". Hãy đem mọi sự đến gặp Đức Chúa Trời trong sự cầu nguyện. Hãy thưa với Ngài cách liên tục về mọi sự trong đời sống của quí vị.
Thứ ba, hãy tìm kiếm Ngài trong sự thờ phượng. Thờ phượng là xem trọng Đức Chúa Trời. Âm nhạc làm cho buổi thờ phượng được nâng cao thêm lên, nhưng âm nhạc không phải là sự thờ phượng. Thờ phượng là suy gẫm luôn Đức Chúa Trời là ai và Ngài đã làm gì. Sự giàu có của ân điển Ngài thật là lạ lùng. Cần phải ghi nhớ luôn chúng ta sống như thế nào và ngợi khen Đức Chúa Trời vì mọi điều Ngài đang làm cho chúng ta.
John Newton chỉ là một đứa trẻ mất mẹ khi ông chỉ mới có 7 tuổi. Ông đi biển lúc được 11 tuổi và không bao lâu sau đó đã dính dáng vào "những sự tàn nhẫn khôn tả xiết trong việc buôn bán nô lệ người châu Phi". Khi đến tuổi thành nhân, ông đã trở thành một con người bẩn thỉu, đáng khinh. Ở tuổi 23, vào ngày 10 tháng Ba năm 1748, chiếc tàu mà ông làm thuyền trưởng gặp nguy hiểm trong một trận bão rất khủng khiếp. Ông kêu la với Đức Chúa Trời xin được thương xót và đã nhận được sự thương xót đó. Ông thực sự đã được biến đổi. Ông trở về nhà rồi sử dụng phần đời còn lại của mình ngợi khen Đức Chúa Trời vì đã làm cho ông phải thay đổi. Ông không bao giờ quên mình đã sống như thế nào. Ông đã cho dựng một tấm bảng ở trước cửa nhà mình ghi câu Kinh Thánh Phục truyền luật lệ ký 15.15: "Hãy nhớ rằng mình đã làm tôi mọi trong xứ Ê-díp-tô, và Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã chuộc ngươi; bởi cớ ấy, ngày nay ta truyền cho ngươi làm các điều nầy". Có lẽ John Newton là biết rõ nhất về câu Kinh Thánh nầy đã được hàng triệu triệu tín đồ hát lên trải 300 năm qua.
Ân điển cứu rỗi sâu rộng lạ lùng,
Chuộc tôi đứa gian ác hung.
Trước tôi đui, nay sáng do Chiên Con,
Ngày xưa mất, hôm nay còn (TC 307).

Galati 3.23-29: "Con đường đến với đức tin"


Tự do thực – Galati
Con đường đến với đức tin
Galati 3.23-29
Có nhiều con đường chồng chéo trên cảnh quan cuộc sống của chúng ta. Chúng cung ứng đường lối cho công việc làm ăn, khoái lạc và con đường quay trở về nhà. Con đường tôi thích nhất là con đường cách nhà chừng vài dặm sau một chuyến đi thật dài.
Người La mã đã đúc câu phương ngôn: "Mọi con đường đều dẫn đến La mã" trên đồng tiền của họ. Trong thời buổi đế quốc của họ, đây là một câu nói thực sự tuyệt đối. Quí vị có biết toàn bộ chiều dài của những siêu xa lộ nối liền các bang của nước Mỹ là 44.328 dặm không? Hãy so sánh với 49.000 dặm đường mà Đế Quốc La Mã đã xây dựng xem!
Kinh Thánh được ghi ra trong đó với nhiều con đường lắm. Có con đường trong đồng vắng từ đó Đức Chúa Trời đã dẫn dân Israel vào Đất Hứa. Có con đường dẫn từ thành Giê-ri-cô xuống mà các môn đồ đã bước đi trên đó. Có con đường dẫn tới thành Đa-mách, ở đó Saulơ đã gặp Chúa. Tất nhiên, có via dolarosa "con đường thương khó" từ đó Chúa Jêsus đã đi bộ vác thập tự giá mình.
Phải, chúng ta đã bước đi trên nhiều con đường trong đời sống của mình, con đường học vấn, con đường sự nghiệp, con đường hôn nhân, con đường làm cha mẹ và con đường nghỉ hưu cho một vài người. Tuy nhiên, con đường quan trọng nhất mà bất cứ ai trong chúng ta đã từng bước đi trên đó là CON ĐƯỜNG ĐỨC TIN, vì đó là con đường đức tin dẫn chúng ta về quê hương trong cõi đời đời.
Con đường đức tin bắt đầu với Cựu Ước rồi dẫn chúng ta qua Tân Ước. Nó dẫn chúng ta qua luật pháp đến với lời hứa của đức tin. Một số người trong chúng ta vẫn cứ sống theo Cựu Ước, ở dưới luật pháp của Đức Chúa Trời. Họ cảm thấy bị xét đoán và bị gò bó. Nhiều người khác gắng sức bỏ qua Cựu Ước rồi đến với Đấng Christ. Trong phân đoạn Kinh Thánh, chúng ta thấy cả hai chặng của Con Đường Đức Tin. Chúng ta thấy chúng ta là ai đương ở dưới luật pháp và chúng ta là ai giờ đây đương ở trong Đấng Christ.
I. Chúng ta là ai đương ở dưới luật pháp (các câu 23-24).
A. Chúng ta là hạng tù nhân (câu 23).
Sứ đồ Phaolô cho chúng ta biết rằng "trước khi đức tin chưa đến", trước khi chúng ta được cứu bởi tin theo Chúa Jêsus, "chúng ta bị nhốt dưới sự canh giữ của luật pháp". Điều nầy rất giống với những gì chúng ta đã nhìn thấy trong tuần qua ở câu 22: "Kinh Thánh nhốt hết thảy mọi sự dưới tội lỗi".
"Nhốt dưới sự canh giữ" có nghĩa là "được bảo hộ bởi lính canh". Chữ "canh giữ" thứ hai trong câu nầy có nghĩa là bị giam hãm, bị vây bọc bốn bên giống như một con cá ở trong lưới vậy. Vì lẽ đó mục đích luật pháp Cựu Ước của Đức Chúa Trời là nhốt tù chúng ta.
Tuần lễ qua khi chúng ta xem xét chữ "nhốt" trong câu 22, tôi đã bắt lấy một thanh niên trẻ tuổi bằng một bộ còng tay. Anh ta đã cố và gắng hết sức bằng sức riêng mình hầu được tự do nhưng không sao thoát ra được. Khi tôi hỏi anh ta có muốn tôi sử dụng chìa khoá để thả anh ta ra hay không, anh ta sốt sắng đáp: “Thưa muốn ạ!”
Hãy tưởng tượng mình đang bị "nhốt dưới sự canh giữ" và bị "nhốt" xem. Hãy hình dung mình đang bị tù xem. Hãy tưởng tượng đang sống hết năm nầy sang năm khác cuộc đời của quí vị trong một xà lim nhỏ bị khoá trái xem. Nếu tôi phải sống giống như thế thì mọi tư tưởng của tôi phải trở thành nỗi khát khao muốn được tự do. Mỗi tối tôi mơ tới những gì tôi sẽ làm một khi tôi thực được tự do.
Một vị Mục sư thuật lại câu chuyện nầy: "Ăn trưa ở một quán cà phê nhỏ, tôi nhìn thấy một con chim sẻ đang nhảy từng bước ngang qua cánh cửa rồi mổ từng miếng bánh vụn ở gần bàn tôi. Khi những mẫu bánh vụn hết rồi, con chim sẻ nhảy qua rìa cửa sổ, giang rộng đôi cánh, và bay đi. Một cú bay ngắn thôi. Nó chạm mạnh vào ô kính cánh cửa sổ rồi ngã xuống sàn nhà. Con chim mau chóng hồi phục rồi thử bay trở lại. Chạm nữa. Và làm lại. Chạm nữa. Tôi đứng dậy và cố gắng suỵt cho con chim bay ra cánh cửa cái, thế nhưng khi tôi càng chịu khó để đuổi nó đi, thì nó cứ ném mình vào rìa khung cửa sổ. Tôi dùng tay khều nó. Rồi đẩy nó từ từ theo bờ rìa cửa, nó va liên hồi vào khung kính. Sau cùng, tôi bước tới và nhẹ nhàng bắt lấy con chim, luồn mấy ngón tay quanh đôi cánh và thân của nó. Nó chẳng nặng bao nhiêu cả. Tôi nghĩ con chim ấy vô quyền và nó cảm biết mình yếu đuối là dường nào. Ra tới cửa cái, tôi thả nó ra, và con chim giang cánh bay đi. Giống như tôi đã làm với con chim sẻ, Đức Chúa Trời bắt lấy chúng ta từ chỗ phu tù để buông tha chúng ta mà thôi".
"Trước khi đức tin chưa đến", trước khi tôi được cứu bởi ân điển nhờ đức tin, tôi đã vật vã dưới luật pháp của Đức Chúa Trời. Tôi đã cố gắng để trở thành một người nhơn đức. Tôi đi nhà thờ mỗi Chúa nhựt. Tôi cố gắng cầu nguyện và đọc Kinh Thánh. Bất luận tôi khó nhọc dường nào, tôi không thể sống nhơn đức được. Tôi không thể cầu nguyện hay hiểu được Kinh Thánh. Tôi thất bại không làm được các việc lành mà tôi muốn làm và luôn luôn làm những việc xấu xa! Tôi khao khát muốn được tự do. Sau cùng tôi nhận biết tôi không thể lường được các tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời theo sức riêng mình. Tôi không thể đạt được một mối quan hệ phải lẽ với Đức Chúa Trời, tôi chỉ phải tin thôi để được hoà thuận lại với Ngài.
Tôi là một tù nhân có lòng khao khát muốn được tự do. Nguyện quí vị có thể cảm nhận giống như một tù nhân hôm nay. Nguyện quí vị nhìn biết rằng quí vị càng cố gắng làm đẹp lòng Đức Chúa Trời thì quí vị sẽ càng thất bại thêm. Quí vị không thích phương thức quí vị đang sinh sống đây. Quí vị không thích hạng người mà quí vị phải trở thành. Đức Chúa Trời vốn hiểu rõ điều đó. Luật pháp của Ngài đã biến quí vị thành một tù nhân và Ngài đã đặt sự khát khao muốn được tự do đó ở trong tấm lòng của quí vị, đó là sự tự do thật. Có những tin tức tốt lành đây. Chúa Jêsus đã phán trong Giăng 8.36: "Vậy nếu Con buông tha các ngươi, các ngươi sẽ thật được tự do".
Hãy chú ý dòng thời gian ở đây. Ấy là "trước khi đức tin chưa đến" thì chúng ta là hạng tù nhân. Nhưng chúng ta bị: "nhốt dưới sự canh giữ của luật pháp mà chờ đức tin phải bày ra". Nếu quí vị đã được cứu, đức tin đã được tỏ ra cho quí vị rồi!
B. Chúng ta là con cái (các câu 24-25).
Trong câu 24, Phaolô cung ứng cho chúng ta một hình ảnh thứ nhì. Ông nói rằng luật pháp cũng là "thầy giáo" hay "người canh giữ" của chúng ta. Bản Kinh Thánh KJV dùng chữ "schoolmaster" (thầy giáo) không đúng ý cho lắm. Từ Hy lạp ở đây có ý nói tới "một người canh giữ bọn trẻ".
Trong xã hội Hy lạp của người thành Galati, hầu hết các trẻ thiếu niên không bị bố mẹ chúng kỷ luật mà bị các thầy giáo hay người có bổn phận canh giữ chúng. Người nầy thường là một nô lệ có ăn học đàng hoàng. Người nầy là một người biết chấp hành kỷ luật. Người nầy là một người giám thị đi đến trường với đứa trẻ và canh chừng cách cư xử của nó. Khi đứa trẻ không vâng lời, “thầy giáo” sẽ đánh đòn nó, thường là nghiêm khắc lắm. Những đứa trẻ niên thiếu thường xem khinh thầy giáo của chúng, nhưng có một số biết yêu thương họ.
Phaolô sử dụng phép loại suy nầy với những người Côrinhtô chưa trưởng thành ở I Côrinhtô 4.15: "Bởi chưng, dẫu anh em có một vạn thầy giáo trong Đấng Christ, nhưng chẳng có nhiều cha". Nói cách khác: "Anh em có nhiều người kỷ luật anh em, còn tôi muốn có một người cha yêu thương anh em". Về sau trong câu 21, ông hỏi: "Anh em muốn điều gì hơn: muốn tôi cầm roi mà đến cùng anh em, hay là lấy tình yêu thương và ý nhu mì?"
Nếu trong các câu 22-23, luật pháp được tiêu biểu bằng một bộ còng tay đang trói buộc chúng ta, luật pháp được tiêu biểu trong câu 24 là một cây roi đánh chúng ta khi chúng ta sống bất tuân.
Trong phương thức nào thì luật pháp giống như một quan cai ngục hay một thầy giáo trông chừng đứa trẻ? Luật pháp tỏ ra ý chỉ của Đức Chúa Trời. Nó cho chúng ta biết điều chi phải làm theo và điều chi không nên làm. Luật pháp cảnh cáo chúng ta về những hình phạt của sự bất tuân. Nó chỉ ra rõ ràng rằng hết thảy chúng ta đều đã bất tuân. Luật pháp đã khiến cho hết thảy chúng ta đều "ở dưới luật pháp" (câu 22). Hết thảy chúng ta đều bị "nhốt dưới sự canh giữ của luật pháp" (câu 23). Bởi bổn tánh và lối sống của chúng ta, hết thảy chúng ta đều ở "dưới sự rủa sả" (câu 10) vì chúng ta không thể tuân giữ luật pháp. Chúng ta không thể thoát ra khỏi sự rủa sả ấy. Nó trói buộc chúng ta và đánh đập chúng ta.
Tại sao chứ? Câu 24 cho thấy câu trả lời là: "dẫn chúng ta đến với Đấng Christ, hầu cho chúng ta bởi đức tin mà được xưng công bình". Tôi đã nhìn thấy có nhiều người đang vật vã với Đức Chúa Trời. Họ cố gắng làm đẹp lòng Ngài. Họ đang cố gắng sống nhơn đức. Tuy nhiên, họ luôn luôn thất bại. Sau một thời gian, có người chịu thua và làm bất cứ điều chi họ muốn. Họ nhìn biết họ không thể đạt được tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời, thật là khó đạt tới các tiêu chuẩn ấy vì vậy họ đã thôi không cố gắng nữa. Sau cùng, khi họ hiểu rõ sự thực Chúa Jêsus đã chịu chết vì mọi tội lỗi của họ, rằng Đức Chúa Trời muốn tha thứ cho họ và thanh tẩy họ, rằng họ không phải làm chi hết chỉ tin mà thôi, "các tin tức tốt lành" dường như quá tốt không thể là thành thực cho được!
Có thể đó chính là quí vị. Quí vị đã gắng sức làm đẹp lòng Đức Chúa Trời nhưng quí vị đã thất bại. Quí vị đã cố gắng sống tôn giáo nhưng trong tấm lòng của quí vị, quí vị biết rõ mình là kẻ giả hình, một kẻ lừa đảo. Lời của Đức Chúa Trời cho quí vị hôm nay là thôi không gắng sức nữa mà hãy tin cậy. Galati 2.16 chép rằng chúng ta biết rõ "rằng người ta được xưng công bình [làm hoà lại với Đức Chúa Trời], chẳng phải bởi các việc luật pháp đâu, bèn là cậy đức tin trong Đức Chúa Jêsus Christ".
Tôi thích cách Catherine Booth giải thích vấn đề nầy: "Những gì luật pháp tìm cách làm bởi một lực kềm chế từ bên ngoài, tin lành thực thi bởi một lực cảm thúc từ bên trong".
II. Chúng ta là ai giờ đây trong Đấng Christ (các câu 25-29).
Chúng ta là ai khi ấy rất khác biệt với chúng ta là ai trong lúc bây giờ. Chúng ta là hạng tù nhân trong gông cùm của luật pháp. Chúng ta là con cái ở dưới phần kỷ luật nghiêm ngặt của “thầy giáo” luật pháp. Giờ đây mọi sự đà thay đổi.
Hãy khoanh tròn một chữ quan trọng ở phần đầu của câu 25, hãy khoanh tròn chữ "song". Có bản dịch ghi "Nhưng bây giờ". "Sau khi đức tin đã đến…". Phaolô nói. Bây giờ chúng ta đã được cứu bởi đức tin, sau khi chúng ta được sanh lại, "…chúng ta không còn phục dưới thầy giáo ấy nữa". Chúng ta không còn "ở dưới luật pháp" nhưng chúng ta đang "ở trong Đấng Christ".
Bốn câu sau cùng nầy của chương ba thật là phong phú! Chúng đầy dẫy với Đức Chúa Jêsus Christ và tình yêu thương của Ngài dành cho chúng ta. Chúng ta hãy chú ý ba lẽ thật nói về tất cả các tín đồ trong mấy câu nầy.
A. Trong Đấng Christ chúng ta là con cái của Đức Chúa Trời (các câu 26-27).
Phaolô nói với người thành Galati và với chúng ta: "Vì chưng anh em bởi tin Đức Chúa Jêsus Christ, nên hết thảy đều là con trai của Đức Chúa Trời". Đức Chúa Trời không còn là quan án của chúng ta nữa; Ngài là Cha của chúng ta. Chúng ta không còn là hạng tù nhân đang chờ đợi sự phán quyết sau cùng bản án của chúng ta, cũng không phải là con cái ở dưới án phạt nghiêm khắc của một người chuyên canh chừng nữa. Chúng ta là con trai con gái đang lớn lên của Đức Chúa Trời, là kẻ kế tự ân điển Ngài với hết thảy các đặc ân của hoàng gia.
"Hết thảy" có ý nói tới từng người tín đồ bất kể chủng tộc, phái tính, tuổi tác hay giai cấp. Chúng ta trở thành con trai con gái của Đức Chúa Trời, không phải qua những thành tựu của chúng ta, mà bất chấp chúng. Chúng ta được sanh vào, được làm con nuôi trong gia đình của Đức Chúa Trời chỉ "bởi tin Đức Chúa Jêsus Christ" mà thôi. Chính mình Chúa Jêsus đã phán trong Giăng 14.6: "Ta là đường đi, lẽ thật và sự sống. Không ai được đến cùng Cha mà chẳng bởi ta".
Tuần qua chúng tôi phát hiện một trong những yếu tố có cần trong nhà chúng tôi là lò điện. Tôi đi ra cửa hàng bán thiết bị gia dụng và mua một cái lò mới. Vì tôi không muốn bị sốc, tôi bước tới chỗ có bảng công tắc rồi tắt điện đi. Khi nhà chúng tôi vừa xây xong, người thợ điện không dành thì giờ đánh dấu các mạch nối. Cách duy nhứt tôi có thể biết chắc nguồn điện đã tắt cho bếp điện của chúng tôi là mọi núm vặn đều chỉ vào chữ “off”. Quí vị biết rõ điều chi đã xảy ra, mỗi ổ khoá và thiết bị ở trong nhà đều bị đóng lại hết. Sau đó, tôi đổ một ít cà phê với nước vào bình pha cà phê rồi vặn nút “on” lên. Mười lăm phút sau không còn có chút cà phê nào nữa. Tôi nhận ra mình đã không vặn một trong những núm xay cà phê lên. Chỉ khi có nguồn điện chạy vào máy xay cà phê thì nó mới hoạt động. Không có điện thì cái máy nằm ụ đó vô dụng mà thôi. Cũng một thể ấy, người nào không kết nối với Con Đức Chúa Trời thì không nối kết với Đức Chúa Cha. Chẳng có năng lực thuộc linh nào trong đời sống của người ấy. Đức Chúa Trời không có con trai con gái nào chưa đồng hoá "bởi đức tin" nơi Con của Ngài là "Đức Chúa Jêsus Christ".
Phaolô nói trong câu 27: "Vả, anh em thảy đều chịu phép báp tem trong Đấng Christ, đều mặc lấy Đấng Christ vậy". Trước tiên, chúng ta hãy học biết những điều mà câu nầy không nói tới. Câu nầy không có ý nói rằng một người phải chịu phép báptêm bằng nước thì mới được cứu.
John MacArthur viết: "Mặc dù phép báptêm bằng nước là một hành động bề ngoài xưng nhận công khai đức tin của mình nơi Đức Chúa Jêsus Christ, ở đây Phaolô không nói tới phép báptêm đó. Không một chỗ nào Kinh Thánh dạy chịu phép báptêm như thế thì mới được cứu đâu, đặc biệt không phải nơi người thành Galati, ở đây trọng tâm sứ điệp là được cứu bởi chỉ duy đức tin mà thôi, hơn bao nhiêu điều khác”.
Cụm từ "phép báptêm" có nghĩa là "dìm xuống hay nhúng xuống nước". Khi chúng ta được cứu, chúng ta bị nhúng hẳn trong Chúa Jêsus về mặt thuộc linh. Chúng ta bị đặt "trong Đấng Christ". Chúng ta được kết nối đời đời với Ngài.
I Côrinhtô 12.13 chép: "Vì chưng chúng ta hoặc người Giu-đa, hoặc người Gờ-réc, hoặc tôi mọi, hoặc tự chủ, đều đã chịu phép báp-tem chung một Thánh Linh để hiệp làm một thân; và chúng tôi đều đã chịu uống chung một Thánh Linh nữa" (đối chiếu Rôma 6.3-5). I Côrinhtô 6.17 mang cùng một ý tưởng: "Còn ai kết hiệp với Chúa thì trở nên một tánh thiêng liêng cùng Ngài".
MacArthur nói thêm: "Đây là một sự mầu nhiệm lớn lắm, lý trí con người không thể dò được. Nhưng trong một phương thức siêu nhiên thuộc linh nào đó trổi hơn thời gian, không gian, và người nào đang đặt lòng tin cậy nơi Đức Chúa Jêsus Christ bị đóng đinh trên thập tự giá, chịu chôn, thì được sống lại với Cứu Chúa của người, chịu phép báp têm trong Đấng Christ".
Phép báptêm bằng nước là bước thứ nhứt trong đời sống của một tân tín hữu. Tất cả các tín đồ phải phục theo Chúa trong sự công khai tuyên xưng đức tin của họ nơi Đấng Christ qua phép báptêm của người tin Chúa. Tuy nhiên, phép báptêm bằng nước chỉ là biểu tượng của bản chất phép báptêm thuộc linh thực. Đó là một hình ảnh bên ngoài của những gì đang diễn ra ở bên trong mà thôi.
Không những chúng ta chịu "phép báptêm trong Đấng Christ" mà chúng ta còn "mặc lấy Đấng Christ" nữa. Khi một thiếu niên La mã được 14-17 tuổi, nó "đã đủ tuổi". Khi nó lớn đủ để rời khỏi phần kỷ luật của “thầy giáo”, nó phải trải qua một nghi thức gọi là toga virilis. Nó trở thành một công dân La mã trọn vẹn với mọi quyền hạn và các đặc ân của công dân đó. Người ta trao cho nó một chiếc áo choàng rộng làm biểu tượng cho sự thành nhơn của nó.
Khi chúng ta được cứu, chúng ta đã trải qua một "toga virilis thuộc linh". Chúng ta bỏ lại đàng sau luật pháp của Cựu Ước, những gông xiềng tội lỗi và người canh giữ nghiệt ngã của mình. Chúng ta trở thành những công dân thiên thượng và mặc lấy chiếc áo xống mới công bình của Đấng Christ. Chúng ta đã "mặc lấy Đấng Christ". Chúng ta đã khoác lấy Ngài rồi.
Côlôse 3.9-10 chép: "…Chớ nói dối nhau, vì đã lột bỏ người cũ cùng công việc nó, mà mặc lấy người mới là người đang đổi ra mới theo hình tượng Đấng dựng nên người ấy, đặng đạt đến sự hiểu biết đầy trọn".
B. Trong Đấng Christ chúng ta thảy đều làm một (câu 28).
Đây là lẽ thật thứ hai về tất cả các tín đồ. Ở phần cuối câu 28, Phaolô nói: "vì trong Đức Chúa Jêsus Christ, anh em thảy đều làm một". Đúng ra câu nầy đọc như sau: "Anh em hết thảy là một người ở trong Đức Chúa Jêsus Christ". Chúng ta không những thuộc về Đức Chúa Trời là các con trai con gái mà còn thuộc về nhau như anh chị em nữa.
Chúng ta thảy đều làm một trong Đấng Christ. Đây là lẽ đạo thường trực xuyên suốt cả Tân Ước. Đây là sự dạy chủ lực trong sách Êphêsô. Êphêsô 4.4-6 chép: "Chỉ có một thân thể, một Thánh Linh, như anh em bởi chức phận mình đã được gọi đến một sự trông cậy mà thôi; chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép báp tem; chỉ có một Đức Chúa Trời và một Cha của mọi người, Ngài là trên cả mọi người, giữa mọi người và ở trong mọi người". I Côrinhtô 12.12 chép: "Vả, như thân là một, mà có nhiều chi thể, và như các chi thể của thân dầu có nhiều, cũng chỉ hiệp thành một thân mà thôi, Đấng Christ khác nào như vậy".
Thứ nhứt, Phaolô cho chúng ta biết CHẲNG CÓ SỰ PHÂN BIỆT CHỦNG TỘC NÀO HẾT. Ông nói: "Tại đây không còn chia ra người Giu-đa hoặc người Gờ-réc…". Đức Chúa Trời đã chọn Ápraham và dòng dõi của ông người Do thái làm tuyển dân của Ngài. Tuy nhiên, trong Đấng Christ Đức Chúa Trời đã làm ứng nghiệm lời hứa của Ngài với Ápraham rằng "các dân sẽ nhờ ngươi mà được phước" (câu 8). Phước nầy bao gồm cả "các dân", người ta trong từng chủng tộc, màu da và ngôn ngữ. Đức Chúa Trời có con trai con gái bởi đức tin nơi Đấng Christ trong từng nhóm dân tộc trên thế gian.
Một trong những bối cảnh cảm động nhất đối với tôi trong cả Kinh Thánh là hình ảnh thờ phượng quanh ngôi của Đức Chúa Trời trong sách Khải huyền: "Sự ấy đoạn, tôi nhìn xem, thấy vô số người, không ai đếm được, bởi mọi nước, mọi chi-phái, mọi dân tộc, mọi tiếng mà ra; chúng đứng trước ngôi và trước Chiên Con, mặc áo dài trắng, tay cầm nhành chà là, cất tiếng lớn kêu rằng: Sự cứu rỗi thuộc về Đức Chúa Trời ta, là Đấng ngự trên ngôi, và thuộc về Chiên Con" (Khải huyền 7.9-10). "Chúng hát một bài ca mới rằng: Ngài đáng lấy quyển sách mà mở những ấn ra; vì Ngài đã chịu giết lấy huyết mình mà chuộc cho Đức Chúa Trời những người thuộc về mọi chi phái, mọi tiếng, mọi dân tộc, mọi nước, và Ngài đã làm cho những người ấy nên nước, và thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời chúng ta; những người ấy sẽ trị vì trên mặt đất" (Khải huyền 5.9-10).
Những người chủ trương ưu thế của người da trắng và nhiều người khác nữa, họ tin rằng Đức Chúa Trời yêu thương hay sẽ cứu vớt các giống người nhất định nào đó, họ chưa hề nghiên cứu kỹ Kinh Thánh.
Thứ hai, Phaolô cho chúng ta biết CHẲNG CÓ PHÂN BIỆT GIAI CẤP. "Không còn người tôi mọi hoặc người tự chủ". Hãy tưởng tượng đang sống trong một xã hội nô lệ xem. Một trong số các ông chủ và một trong số các nô lệ, cả hai đều là Cơ đốc nhân và cả hai đều nhóm chung trong một hội chúng. Khi đến với Đấng Christ, họ đều bình đẳng với nhau. Trong từng hoàn cảnh xã hội của con người khi sanh ra, giàu có, đặc ân và học vấn đã phân biệt con người. Thật không phải như vậy ở trong Đấng Christ. Có người đã nói: "Mặt đất bằng phẳng ở tại chân thập tự giá".
Hội thánh, mọi người đều được hoan nghênh ở tại đây. Có những Hội thánh chỉ phục vụ cho giới giàu có hay tinh hoa của xã hội. Giacơ 2.1-9 nói tới việc đem lại sự bất công cho một người anh em nghèo hèn. Ông hỏi trong câu 5: "Hỡi anh em rất yêu dấu, hãy nghe nầy: Đức Chúa Trời há chẳng lựa kẻ nghèo theo đời nầy đặng làm cho trở nên giàu trong đức tin, và kế tự nước Ngài đã hứa cho kẻ kính mến Ngài hay sao?" Ông nói thêm trong câu 9: "Nhưng nếu anh em tây vị người ta, thì phạm tội, luật pháp bèn định tội anh em như kẻ phạm phép".
Thứ ba, Phaolô cho chúng ta biết CHẲNG CÓ PHÂN BIỆT PHÁI TÍNH. Ông nói: "Không còn đàn ông hoặc đàn bà". Quan niệm bình đẳng về phái tính không bắt đầu trong thế kỷ 20. Quyền hạn của phụ nữ không phải đã được đấu tranh trước tiên bởi những người theo chủ nghĩa tự do mà là bởi Đức Chúa Trời.
Trong các thời kỳ Kinh Thánh, phụ nữ thường bị coi là nhỏ mọn hơn cả của cải. Họ thường bị lợi dụng và ngược đãi bởi những người làm chồng của họ. Cơ đốc giáo nâng cao phụ nữ không những tới một cấp độ mới của sự tôn trọng, mà còn nâng cao tới chỗ bình đẳng với nam giới trong thân của Đấng Christ. Nữ giới và nam giới chia sẻ cùng những quyền hạn, cùng quyền lui tới và cùng mối tương giao giữa vòng dân sự của Đức Chúa Trời. Phierơ nhắc cho chúng ta, những ngươi đờn ông phải nhớ: "Hỡi người làm chồng, hãy tỏ điều khôn ngoan ra trong sự ăn ở với vợ mình, như là với giống yếu đuối hơn; VÌ HỌ SẼ CÙNG ANH EM HƯỞNG PHƯỚC SỰ SỐNG…" (I Phierơ 3.7).
Chúng ta cần một lời cảnh tỉnh ở đây. Nói như vầy không có nghĩa là những phân biệt về chủng tộc, xã hội và phái tính đã bị xoá sạch đâu nhé. Cơ đốc nhân không phải "mù quáng về màu da" đâu. Họ vốn ý thức về lai lịch xã hội và văn hoá của một người. Họ không đối xử với nam giới giống như nữ giới và nữ giới như nam giới đâu. Thực ra, Đức Chúa Trời đã đặt nam và nữ giới trong các vai trò rất phân biệt ở cả gia đình và trong Hội thánh. John Stott nói: "Khi chúng ta nói Đấng Christ đã hủy hết các sự phân biệt nầy, chúng ta không có ý nói rằng chúng không còn tồn tại, mà có ý nói rằng chúng không thành vấn đề. Chúng vẫn còn ở đó, nhưng chúng không tạo ra bất kỳ một hàng rào ngăn trở nào đối với mối tương giao nữa".
G.K. Chesterson nói: "Trong Cơ đốc giáo thảy đều bình đẳng, giống như hết thảy các đồng xu đều bằng nhau, vì giá trị duy nhứt nơi bất kỳ ai trong số họ ấy là họ đang mang lấy ảnh tượng của nhà Vua". Chúng ta thực sự "thảy đều làm một trong Đức Chúa Jêsus Christ".
C. Trong Đấng Christ chúng ta là dòng dõi của Ápraham (câu 29).
Cuối cùng Phaolô nói: "Lại nếu anh em thuộc về Đấng Christ…" nếu quí vị được sanh lại bởi đức tin trong Chúa Jêsus, thì "anh em là dòng dõi của Áp-ra-ham, tức là kẻ kế tự theo lời hứa".
Bởi đức tin trong Đấng Christ chúng ta thuộc về Đức Chúa Trời. Bởi đức tin trong Đấng Christ chúng ta cũng kế tự lời hứa ban cho Ápraham. Chúng ta có được chỗ của mình trong một hàng dài những người nam người nữ có đức tin. Chúng ta đứng chung hàng với các vị anh hùng đức tin trong Hêbơrơ 11. Giống như Abên, Hê-nóc, Nôê, Ápraham, Sara, Ysác, Gia-cốp, Giô-sép, Môise, Raháp, Ghi-đê-ôn, Barác, Samsôn, Giép-thê, David, Samuên và hết thảy các đấng tiên tri. Chúng ta đứng biệt riêng ra với người thế gian, là những người bởi đức tin là “kẻ kế tự” của Đức Chúa Trời.
Có một nhận định rất vô nghĩa trong thế hệ ngày nay. Ngày nay có nhiều người tin cuộc sống chẳng có ý nghĩa gì cả, rằng chúng ta là một đống ngẫu nhiên gồm các tế bào và mô. Với thứ triết lý đó, nhiều người ngày nay cảm thấy họ không thuộc về chỗ nào hết. Họ chẳng thuộc về ai cả. Họ đang bị hư mất.
Các tin tức tốt lành của Tin Lành, ấy là trong Đấng Christ chúng ta tìm được chính mình. Kẻ chẳng thuộc về ai hết đã trở thành kẻ thuộc về. Chúng ta tìm được chỗ của mình trong CÕI ĐỜI ĐỜI là con trai con gái của Đức Chúa Trời. Chúng ta tìm được chỗ của mình trong XÃ HỘI là anh chị em trong gia đình của Đức Chúa Trời. Chúng ta tìm được chỗ của mình trong LỊCH SỬ là chi thể của dân sự Đức Chúa Trời liên tục tải xuống qua các thời đại.
Chúng ta có sự gắn bó 3 chiều kích trong Đấng Christ – chiều cao, chiều rộng và chiều dài. Chúng ta gắn bó trong CHIỀU CAO qua Đấng Christ bởi việc bước vào sự ràng buộc đời đời với Đức Chúa Trời Toàn Năng. Chúng ta gắn bó trong CHIỀU RỘNG nhờ Đấng Christ bởi việc kết hiệp làm một với hết thảy các tín hữu trong thân của Đấng Christ. Chúng ta được gắn bó ở CHIỀU CAO là một phần trong hàng dài các tín đồ qua dòng thời gian.
Khi có người hỏi: "Quí vị là ai?" Quí vị có thể trả lời thật chính xác như sau: "Tôi ở trong Đấng Christ. Tôi là con cái của Đức Chúa Trời Toàn Năng, là kẻ kế tự mọi lời hứa của Ngài. Tôi hiệp một với dân được chuộc của Đức Chúa Trời trong mọi thời đại, quá khứ, hiện tại và tương lai".
Trong Đấng Christ chúng ta tìm thấy chính mình. Trong Đấng Christ chúng ta có một lai lịch đời đời. Trong Đấng Christ chúng ta tìm được con đường của đức tin, con đường ấy dẫn chúng ta về đến quê hương thật hoàn toàn.
Có nhiều con đường chạy qua cuộc sống. Con đường quan trọng nhất mà bất kỳ ai cũng có thể đi được là con đường đức tin. Nhà truyền đạo lỗi lạc Charles Spurgeon từng nói: "Nếu quí vị không dám chắc về con đường nào trong hai con đường phải chọn, hãy chọn con đường nào có bóng thập tự giá ngã dài trên đó ".

Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2011

Galati 3.15-22: "Lời hứa và luật pháp"


Tự do thực – Galati
Lời hứa và luật pháp

Galati 3.15-22
Quí vị đã từng gặp ông chủ có tính thất thường chưa? Khi tôi còn đi học, tôi làm công cho một người chủ kia, ông ta thường thay đổi tánh ý lắm. Quí vị không sao biết được ông ta có một lý trí như thế nào đâu! Ở giây phút nầy ông ta sẽ bước tới gần rồi kể cho quí vị nghe một câu chuyện tếu, vỗ lưng quí vị rồi bật cười bỏ đi. Sau đó mấy phút thôi, ông ta sẽ quay trở lại rồi cứ lãi nhãi trước mặt mấy nhân công khác. Không cần phải nói, tính khí của ông ta được dựng nên cho một nơi làm việc đầy căng thẳng.
Một số người đã xem Đức Chúa Trời cùng một cách thức mà tôi đã nhìn xem ông chủ trước đây của tôi. Ở mặt nầy họ biết rõ Ngài là một Đức Chúa Trời yêu thương và giàu ơn, rằng chúng ta là con cái của Ngài, là con ngươi của mắt Ngài. Họ hiểu rõ Ngài là Đấng ban ra từng ân tứ tốt lành và là nguồn của mọi ơn phước chúng ta. Ở mặt kia, họ biết rõ Đức Chúa Trời là một Đức Chúa Trời đòi hỏi thế nầy thế kia. Ngài có nhiều pháp chế, nhiều luật lệ cho lối sống của chúng ta. Thuộc về Ngài là sự phán xét nghiêm ngặt đưa đến sự xét đoán, kỹ luật và hình phạt cho sự không vâng lời.
Kinh Thánh cung ứng cho chúng ta cả hai nhận định về bổn tánh của Đức Chúa Trời. Thuộc về Ngài là sự giàu ơn và đồng thời Ngài hay bó buộc lắm. Chúng ta xem cả hai phương diện của bổn tánh Đức Chúa Trời qua hai nhân vật trong Cựu Ước, Ápraham và Môise. Ápraham đã nhận lãnh lời hứa ân điển của Đức Chúa Trời. Đối với cụ già chưa có con nầy, Đức Chúa Trời phán: "Ngươi hãy ngó lên trời, và nếu ngươi đếm được các ngôi sao thì hãy đếm đi….Dòng-dõi ngươi cũng sẽ như vậy". Câu kế đó cho biết: "Áp-ram tin Đức Giê-hô-va, thì Ngài kể sự đó là công bình cho người" (Sáng thế ký 15.5-6).
Qua Môise, Đức Chúa Trời đã ban luật pháp cho Israel. Ông đã lên Núi Sinai trong "sấm vang chớp nhoáng, một áng mây mịt mịt ở trên núi, và tiếng kèn thổi rất vang động; cả dân sự ở trong trại quân đều run hãi". Chúa truyền cho họ: "Khá giữ mình đừng leo lên núi, hoặc đụng đến chân; hễ kẻ nào đụng đến thì sẽ bị xử tử" (Xuất Êdíptô ký 19.18, 12). Qua Môise, Đức Chúa Trời đã ban ra luật pháp cho dân sự Ngài.
Đức Chúa Trời là Đấng đã ban ra lời hứa cho Ápraham cũng chính là Đức Chúa Trời đã ban luật pháp cho Môise. Đức Chúa Trời là Đấng đã phán theo cách riêng với Ápraham cũng chính là Đức Chúa Trời đã ban ra luật pháp qua sấm vang chớp nhoáng trên Núi Sinai. Lời hứa của Đức Chúa Trời và luật pháp của Đức Chúa Trời cùng song hành với nhau. Đức Chúa Trời không có gì phải lo buồn cả. Ngài không thay đổi ý định của Ngài. Trong bài nghiên cứu hôm nay về sách Galati, chúng ta sẽ xem xét Quyền phép Lời hứa của Đức Chúa Trời cho Ápraham và Mục đích luật pháp của Đức Chúa Trời qua Môise. Sau cùng, chúng ta sẽ xem xét một số Điểm cần phải suy gẫm.
I. Quyền phép Lời hứa của Đức Chúa Trời cho Ápraham (các câu15-18).
A. Lời hứa của Đức Chúa Trời là không thay đổi (câu 15).
Trước hết, Phaolô gọi người thành Galati là "anh em". Cho dù họ đang nghe theo các giáo sư giả, họ vẫn còn là chi thể của gia đình Đức Chúa Trời. Nguyên tắc cho chúng ta là dù khi chúng ta bất đồng với các Cơ đốc nhân khác, họ vẫn còn là anh chị em của chúng ta và chúng ta cần phải yêu thương họ.
Kế đó Phaolô nói: "tôi nói theo thói quen người ta rằng" hay theo "từ ngữ của con người". Nói cách khác, ông bắt đầu tiểu đoạn nầy với một trường hợp thực tế từ đời sống hàng ngày, một minh hoạ thông thường. Ông giới thiệu quan niệm nói về "giao ước của con người". Từ ngữ "giao ước" có ý nói tới "một lời hứa hay giao kèo bắt buộc". Từ ngữ nầy ra từ một chữ Hy lạp thông thường và được dịch là "nguyện vọng" như trong "giao ước và nguyện vọng sau cùng".
Phaolô đang nói: "Giả sử anh em đưa ra một nguyện vọng và khẳng định nó hay ký kết với nó, thế thì chẳng một ai có thể hủy bỏ hay thay đổi nó cho được". Ngày nay các nguyện vọng được đưa ra tranh cãi ở toà án để biết đúng sai. Tuần nầy tôi đọc thấy gia đình của một tỉ phú dầu hoả ở Houston là J. Howard Marshall II đang bàn cãi về nguyện vọng của ông, trong đó ông cắt đứt phần của con cái mình, rồi để tài sản kếch xù lại cho người vợ là ngôi sao đang lên có tên là Anna Nicole Smith.
Mặc dù mọi nguyện vọng thường được đưa ra tranh cãi hôm nay, một nguyện vọng đã được ký kết, được thông qua hay được "khẳng định" trong thế kỷ đầu tiên là một tài liệu không thể tranh cãi được. Đây là một vấn đề đã được định liệu rồi: "Chẳng ai được bớt ra hay thêm vào điều gì". Mục đích minh họa của Phaolô rất là đơn sơ. “Nếu có điều chi đơn sơ như ý chỉ của Con Người không thể sửa đổi được thì lời hứa của Đức Chúa Trời quả chắc chắn là dường nào?”
Các giáo sư giả trong xứ Galati, những người theo giáo Giu-đa đang nói: "Phaolô ơi, chúng ta hiểu rằng Ápraham đã nhận lãnh và tin theo lời hứa của Đức Chúa Trời. Quả thực vậy, về sau qua Môise Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta chương trình trò chơi mới, ấy là luật pháp. Ápraham có thể đã làm hoà lại với Đức Chúa Trời bởi đức tin nhưng khi luật pháp đến, mọi sự đều đã thay đổi. Giờ đây chúng ta đang làm hoà lại với Đức Chúa Trời. Bây giờ chúng ta đang hoà thuận lại với Đức Chúa Trời bằng cách tuân giữ luật pháp Ngài và trở thành một dân nhơn đức”. Phaolô đang nói: "Không có cách nào khác nữa đâu! Nếu anh em không thể thay đổi được lời hứa của một người, anh em không thể làm thay đổi được lời hứa của Đức Chúa Trời! Ngài là Đấng Giữ Lời Hứa long trọng của mình".
Chúng ta hãy lưu ý một lần nữa lời hứa của Đức Chúa Trời với Ápraham từ Sáng thế ký12.2-3: "Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn; ta sẽ ban phước cho ngươi, cùng làm nổi danh ngươi, và ngươi sẽ thành một nguồn phước. Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước cho ngươi, rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi; và các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước".
Lời hứa ấy đã hoàn toàn ứng nghiệm nơi Đấng Christ. Qua Chúa Jêsus Đức Chúa Trời khiến cho "các chi tộc nơi thế gian" sẽ "được phước". Không một người nào tự nhiên mà được phước của Đức Chúa Trời cả đâu. Chúng ta là dân Ngoại kế tự ơn phước nầy bởi đức tin nơi Chúa Jêsus. Phaolô đã nói trong câu 7: "vậy anh em hãy nhận biết rằng những kẻ có đức tin là con cháu thật của Áp-ra-ham". Ông nói trong câu 9: "Ấy vậy, ai tin thì nấy được phước với Áp-ra-ham, là người có lòng tin".
Hãy so sánh lời hứa của Đức Chúa Trời cho Ápraham với luật pháp của Đức Chúa Trời qua Môise. Trong lời hứa, Đức Chúa Trời phán: "Ta sẽ… Ta sẽ… Ta sẽ… Ta sẽ…". Bốn lần! Trong luật pháp Đức Chúa Trời phán: "Ngươi sẽ". Luật pháp nương theo thành tích của chúng ta. Lời hứa thì nương vào lời hứa không thể thay đổi, không biến cải, bất biến của Đức Chúa Trời! Đức Chúa Trời hứa lời hứa đó và Ngài sẽ làm thành nó.
B. Lời hứa của Đức Chúa Trời được ứng nghiệm nơi Đấng Christ (câu 16).
Kế đó Phaolô nói: "Vả, các lời hứa đã được phán cho Áp-ra-ham và cho dòng dõi người". "Dòng dõi" ra từ chữ sperma có ý nói tới con cháu. Đức Chúa Trời đã lập lời hứa nầy với cả Ápraham và những ai sẽ ra từ Ápraham.
Tiếp theo, vị sứ đồ nói: "không nói: Và cho các dòng dõi người, như chỉ về nhiều người; nhưng nói: Và cho dòng dõi ngươi, như chỉ về một người mà thôi, tức là Đấng Christ". Phaolô đang cung ứng cho chúng ta phần chú giải được Thánh Linh cảm thúc ở Sáng thế ký 22.18. Ông đang lý giải và ứng dụng một câu Kinh Thánh Cựu Ước.
Cụm từ "dòng dõi" trong cả tiếng Hy lạp và Hy bá lai có thể sử dụng theo hình thức số ít lẫn số nhiều. Từ ngữ theo tiếng Anh "cá" (fish) có thể là một con cá hay nhiều con cá. Bởi công tác cảm thúc của Đức Thánh Linh, Phaolô chỉ ra rằng Ápraham thậm chí không hiểu khi ông nhận lãnh lời hứa nầy. Sự ứng nghiệm trọn vẹn không nằm ở chỗ "dòng dõi" hay "nhiều người" có ý nói tới dân Israel, mà nói tới "dòng dõi" "như chỉ về một người mà thôi, tức là Đấng Christ". Sự ứng nghiệm trọn vẹn lời hứa của Đức Chúa Trời cho Ápraham không những là tạo ra một dân lớn trong xứ Palestine, mà còn cung ứng một Cứu Chúa cho thế gian trong Đấng Christ nữa!
Phaolô quay nhìn lại thật xa trong lịch sử Kinh Thánh chỗ Sự Sa Ngã, tội lỗi nguyên thủy ở trong Vườn Êđen. Trong lời rủa sả của Ngài, Đức Chúa Trời phán với con rắn, là Satan: "Ta sẽ làm cho mầy cùng người nữ, dòng dõi mầy cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chân người".
Tất cả những lời hứa của Đức Chúa Trời đều được ứng nghiệm nơi Chúa Jêsus. Cách duy nhứt cho mỗi người chúng ta có thể kế tự lời hứa của Đức Chúa Trời là nếu chúng ta chịu "ở trong Đấng Christ". Các thánh đồ trong Cựu Ước đã vâng theo Đức Chúa Trời và đã nhìn thấy trước bởi đức tin về sự đến của "dòng dõi người nữ", là Đấng Christ, Đấng Mêsi. Họ đã thấy trước Thập tự giá. Chúng ta là hạng thánh đồ trong Tân Ước tin theo thập tự giá và nhận biết Chúa Jêsus đã trả giá cho mọi tội chúng ta một lần đủ cả.
C. Lời hứa của Đức Chúa Trời có trước Luật pháp (câu 17).
Kế đó Phaolô nhắc cho chúng ta nhớ rằng "luật pháp" đã đến "là sự cách sau bốn trăm ba mươi năm mới có" (chắc chắn là lâu hơn vì câu nầy đề cập tới khoảng thời gian làm nô lệ cho người Ai cập, đối chiếu Xuất Êdíptô ký 12.40; Sáng thế ký 15.13; Công Vụ các Sứ Đồ 7.6. Khoảng thời gian nầy phải gần 645 năm). Luật pháp đã đến sau lời hứa lâu, lâu lắm.
Luật pháp, là điều đã đến sau, không thể "huỷ giao ước" hay lời hứa mà Đức Chúa Trời "đã kết lập thành rồi… trong Đấng Christ". Vì nhiều thế kỷ về sau Đức Chúa Trời đã ban cho dân sự Ngài luật pháp thiêng liêng của Ngài qua Môise, chắc chắn “lời hứa cũng không có thể bị bỏ đi bởi luật pháp”.
Luật pháp của con người chúng ta thay đổi với nền văn hoá và kỹ thuật. Chúng ta tạo ra hàng ngàn điều luật mới mỗi năm, rồi thay đổi hay xoá đi hàng ngàn điều luật cũ. Có nhiều điều bất hợp pháp đối với thế hệ kia giờ đây là hợp pháp với thế hệ nầy. Nhiều điều cách đây mấy năm là hợp pháp, giờ đây lại bị cấm đoán. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời là vô hạn. Ngài không hề thay đổi. Vì lẽ đó không một lượng thời gian nào có thể thay đổi được lời hứa của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời không hề thay đổi và lời hứa của Ngài không thể hủy được.
D. Lời hứa của Đức Chúa Trời đặt trên bổn tánh của Ngài (câu 18).
Vị sứ đồ kết thúc tư tưởng nầy bằng câu nói: "Vì, nếu cơ nghiệp [sự cứu rỗi của chúng ta] được ban cho bởi luật pháp, thì không bởi lời hứa nữa". Nếu sự tuân giữ luật pháp có thể cứu chúng ta, thì đâu là mục đích của lời hứa của Đức Chúa Trời chứ?
Hãy hình dung quí vị sở hữu một trại chăn nuôi gia súc lớn thuộc về gia đình của quí vị qua sáu thế hệ rồi. Trại chăn nuôi đó đã được chăm sóc rồi trao tay xuống tới cha của quí vị và các tổ phụ trước ông ấy. Hãy hình dung đi, bây giờ quí vị có một đứa con trai. Ngày kia quí vị đem nó theo bên mình rồi nói: "Con ơi, con biết rõ trại chăn nuôi nầy đã được truyền qua 6 thế hệ gia đình của chúng ta. Đây là cơ nghiệp của chúng ta". Quí vị sẽ nói: "Con ơi, nếu con chịu khó làm lụng và làm cho ta được tự hào mà không phải xấu hổ, một ngày kia tất cả cơ nghiệp nầy sẽ thuộc về con" hoặc quí vị sẽ nói: "Vì con là người kế tự, một ngày kia cơ nghiệp nầy sẽ thuộc về con".
Đâu là mục đích? Quí vị không KIẾM một "cơ nghiệp", quí vị NHẬN LÃNH cơ nghiệp đó. Nếu quí vị phải làm lụng để có "cơ nghiệp", nó sẽ chẳng thực sự là "cơ nghiệp" nữa, mà nó là tiền công.
Con cái thuộc về tôi theo huyết thống. Tôi là cha của chúng. Không một điều gì có thể làm thay đổi mối quan hệ ấy. Bây giờ thì chúng đang lớn lên, chúng có thêm nhiều trách nhiệm. Chúng có thêm nhiều nguyên tắc để làm theo các việc vặt ở trong nhà. Chúng đang học biết để sống với luật pháp. Tuy nhiên, khi chúng nổi loạn và bất tuân, chúng không thôi là con cái của tôi đâu. Mối quan hệ của chúng tôi dựa theo huyết thống chớ không dựa theo sự vâng lời.
Luật pháp nương vào thành tích của con người; còn lời hứa nương vào sự thành tín của Đức Chúa Trời. Phaolô nói: "Nhưng Đức Chúa Trời đã dùng lời hứa mà ban [từ ngữ rất mạnh mẽ – giàu ơn ban] cơ nghiệp cho Áp-ra-ham". Chúng ta được cứu bởi TIN THEO lời hứa của Đức Chúa Trời, chớ không phải theo SỰ VÂNG PHỤC luật pháp của Đức Chúa Trời đâu!
Hãy hình dung Đức Chúa Trời đã mời chúng ta ngồi chỗ ưu tiên một trên chuyến bay mà Ngài là phi công lèo lái phần còn lại của đời sống chúng ta. Được cứu giống như chấp nhận một vé miễn phí trên chuyến bay huy hoàng nầy. Chúng ta có mặt tại phi cảng với hai chiếc va-li quá cở, một túi quần áo, một cặp da và các thứ mà chúng ta xem là rất quan trọng. Chúng ta vất vả tại cổng, nặng nề với hành trang nầy, còn Đức Chúa Trời, Ngài phán: "Sao ngươi không để ta lo liệu hành trang ấy cho. Ngươi biết đấy, không có một giới hạn nào về hành lý cơ mà". Chúng ta nói: "Không, cảm tạ Chúa, con sẽ mang lấy hành lý của con. Ngài đã làm đủ khi mời con lên chuyến bay nầy". Chúng ta gắng hết sức phấn đấu trên chiếc máy bay để mang lấy hành lý của mình và trở thành hạng hành khách nhơn đức khi Đức Chúa Trời chỉ muốn chúng ta ngồi xuống và thưởng thức chuyến đi mà thôi. Tôi biết có nhiều Cơ đốc nhân đang gắng hết sức để hoàn thành, với luật pháp, mọi điều mà Đức Chúa Trời đã làm thành rồi với lời hứa. Nầy anh em ơi, chúng ta không những đã được cứu bởi ân điển, mà bởi ân điển ấy chúng ta còn được làm nên thánh nữa! Chúng ta không cần phải mang lấy mấy cái túi xách của mình mà chi; chúng ta chỉ cần bước lên chiếc máy bay mà thôi!
II. Mục đích của luật pháp Đức Chúa Trời qua Môise (các câu 19-22).
Tôi biết quí vị đang suy nghĩ: "Nếu chúng ta được cứu bởi lời hứa của Đức Chúa Trời, thì đâu là mục đích của luật pháp? Tại sao Đức Chúa Trời lại ban ra luật pháp chứ?" Phaolô đoán trước câu hỏi ấy.
A. Luật pháp của Đức Chúa Trời bày tỏ ra tội lỗi của chúng ta (câu 19a).
Trong câu 19, Phaolô đưa ra câu đầu tiên trong hai câu hỏi: "Vậy thì làm sao có luật pháp?" Những kẻ theo giáo Giu-đa đã tố cáo Phaolô về sự chối bỏ luật pháp, về việc xé rách những trang đó ra khỏi quyển Kinh Thánh. Họ đã nói trong Công Vụ các Sứ Đồ 21.28: "Kìa, người nầy giảng dạy khắp thiên hạ, nghịch cùng dân, nghịch cùng luật pháp…".
Ngược lại, Phaolô nói: "luật pháp đã đặt thêm, vì cớ những sự phạm phép". "Phạm phép" có nghĩa là "bước lố các đường ranh giới". Lớn lên ở miền Đông Texas, săn bắn là một phần trong đời sống của tôi. Vì tất cả đất đai đều có chủ riêng và phần lớn đều có gắn bảng chỉ dẫn, tôi phải rất cẩn thận khi vượt qua để săn bắn trên tài sản của người khác khi có thông báo sẵn rồi. Tôi làm hết sức mình để không bước qua các lằn ranh giới.
Rôma 3.20 chép: "vì chẳng có một người nào bởi việc làm theo luật pháp mà sẽ được xưng công bình trước mặt Ngài, vì luật pháp cho người ta biết tội lỗi". Rôma 4.15 chép: "song đâu không có luật pháp, thì đó cũng không có sự phạm luật pháp". Rôma 7.7 chép: "Nhưng tôi chỉ bởi luật pháp mà biết tội lỗi; vì nếu luật pháp không nói: Người chớ tham lam, thì tôi đã không biết sự tham lam".
Chuck Swindoll thường thuật lại khi ông hầu việc Chúa ở miền Nam California. Ông hay lái xe qua các vườn cam trên đường đến nhà thờ. Trong mùa thu hoạch, sẽ có các đống cam to lớn ở quanh các cánh đồng. Ngày kia ông nghe thông báo trên đài phát thanh. Có một vụ mùa trái cây bội thu trong năm đó, có nhiều cam hơn là các nông gia có thể thu hoạch. Tuy nhiên, dù hoàn cảnh nào thì nông dân cũng phải ra đồng để hái cam. Họ không phải lo điều chi cả. Ông nói: "Tôi chưa hề nghĩ tới việc hái cam trước đó, nhưng ý thức của tôi về luật lệ làm sản sinh ra ước muốn phải đưa tay hái các quả cam đó, ước muốn nầy không cưỡng lại được!"
Luật pháp tỏ ra tình trạng tội lỗi của chúng ta. Luật pháp không được ban ra để hiến cho sự cứu rỗi, mà để chỉ ra nhu cần của chúng ta về ơn ấy. Luật pháp không hề được dự trù để chỉ ra ai là thánh, mà chỉ ra ai là tội nhân.
B. Luật pháp của Đức Chúa Trời đã đến cách gián tiếp (các câu 19b-20).
Trong vế thứ hai của câu 19, vị sứ đồ giải thích rằng luật pháp đã "đặt thêm… cho tới chừng nào người dòng dõi [Chúa Jêsus] đến, là người mà lời hứa đã hứa cho; luật pháp được ban ra bởi mấy thiên sứ và truyền ra bởi một người trung bảo".
Đức Chúa Trời đã ban luật pháp cho Israel "bởi một người trung bảo", là Môise, mà cũng "bởi mấy thiên sứ" nữa. Dường như khi Đức Chúa Trời ở trên Núi Sinai trong sấm chớp lúc ban ra luật pháp đã có mấy thiên sứ ở với Ngài. Phục truyền luật lệ ký 33.2 chép: "Đức Giê-hô-va đã đến từ Si-na-i, Ngài từ Sê-i-rơ dấy lên trên dân chúng, chiếu sáng từ núi Pha-ran, đến từ giữa muôn vàn đấng thánh; từ tay hữu Ngài phát ra cho họ lửa của luật pháp Ngài". Êtiên đã nhắc tới điều nầy trong bài giảng của ông ở Công Vụ các Sứ Đồ 7.53: "các ngươi đã nhận luật pháp truyền bởi các thiên sứ…". Hêbơrơ 2.2 chép: "…vì nên lời thiên sứ rao truyền đã vững chắc…".
Luật pháp đã đến với Israel cách gián tiếp. Luật pháp ra từ miệng của Đức Chúa Trời "bởi các thiên sứ" rồi đến với Môise người "trung bảo" và sau cùng đến với dân sự. Khi Đức Chúa Trời ban ra lời hứa cứu rỗi của Ngài cho Ápraham Ngài đã ban ra cách trực tiếp. Câu 20 chép: "Vả, người trung bảo chẳng phải là người trung bảo về một bề mà thôi, nhưng Đức Chúa Trời chỉ có một".
Tôi ghét nhận thông tin từ người thứ nhì, thứ ba. Tôi có người bạn Mục sư hay gọi điện đến tôi luôn… phải, ông ấy không gọi tôi, ông ấy nhờ viên thư ký gọi điện cho tôi. Cô ấy nói: "Xin ông vui lòng giữ máy…". Mỗi lần ông ấy làm thế, tôi hỏi ông ta có phải ông ta đã quên cách quay số điện thoại rồi không!?!
Luật pháp là gián tiếp. Nó không phải là phương tiện truyền bá ơn cứu rỗi, mà là phương tiện tạo ra trong chúng ta một nhận thức về tội lỗi và một ước ao muốn được cứu, ước ao đó chứa lời hứa riêng tư của Đức Chúa Trời.
C. Luật pháp của Đức Chúa Trời bắt chúng ta làm phu tù (các câu 21-22).
Bây giờ Phaolô đưa ra câu hỏi thứ nhì rất rõ ràng trong câu 21: "Vậy thì luật pháp nghịch [ngược lại với hay đối ngược] cùng lời hứa của Đức Chúa Trời hay sao?" Ông trả lời cho câu hỏi nầy theo cách quả quyết: "Chẳng hề như vậy!" Tiếp đến, ông nói: "vì nếu đã ban cho một luật pháp có thể làm cho sống, thì sự công bình [ơn cứu rỗi] chắc bởi luật pháp mà đến". Nếu luật pháp có thể cứu chúng ta, chúng ta sẽ được cứu bởi luật pháp. Nhưng chẳng có một luật nào như thế được ban ra hết.
John R.W. Stott viết: "…sự thực là chẳng có ai có thể giữ được luật pháp của Đức Chúa Trời. Thay vì thế, chúng ta hạng tội nhân đang phá vỡ luật pháp ấy mỗi ngày. Vì thế luật pháp không thể xưng công bình chúng ta. Vậy thì, làm sao tạo ra một sự hài hoà giữa luật pháp và lời hứa? Chỉ bởi việc nhìn thấy con người kế tự lời hứa vì họ không thể giữ luật pháp, và họ bất khả không thể tuân giữ luật pháp làm cho lời hứa ra đáng ao ước hơn, không thể bỏ qua được".
Hãy quan sát câu 22 cho thật kỹ rồi khoanh tròn chữ "nhốt". Câu nầy chép như sau: "Nhưng Kinh Thánh đã nhốt mọi sự ở dưới tội lỗi". Chữ "nhốt" có nghĩa là: "khóa an toàn, đóng kín các cạnh thùng lại".
Tôi có một bộ còng tay. Tôi sẽ túm lấy một gã to con nhất trong hội chúng của chúng ta, rồi còng hắn lại bằng loại còng nầy. Hắn sẽ bị "nhốt", bị khoá an toàn. Đây là công việc của "Kinh Thánh", luật pháp… bắt nhốt hay bắt chúng ta làm phu tù. Luật pháp giống như một bộ còng tay, một xà lim nhà tù. Bất luận quí vị cố gắng khó nhọc là dường nào, quí vị không thể bẻ khoá được. Quí vị không thể được tự do. Mọi sự quí vị có thể làm là cầu xin sự giúp đỡ. Quí bạn tôi ở đây không thể được tự do cho tới chừng người ấy đến với tôi rồi cầu xin đưa chìa khoá cho.
LỜI HỨA CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ CHÌA KHOÁ!!! Mục đích của luật pháp là nhốt chúng ta và trói buộc chúng ta để chúng ta kêu cầu Đức Chúa Trời cứu giúp! Khi chúng ta kêu la với Đức Chúa Trời, Chúa Jêsus, Dòng Dõi, Lời Hứa buông tha cho chúng ta được tự do.
Đức Chúa Trời ban lời hứa cho Ápraham và kế đó luật pháp cho Môise. Tại sao vậy? Đức Chúa Trời phải làm cho nhiều việc ra tệ hại hơn trước khi Ngài làm cho chúng ra tốt hơn. Mục đích của luật pháp là tỏ ra chúng ta thực sự tội lỗi và vô dụng là dường nào, hầu cho chúng ta sẽ ước ao lời hứa về ân điển và ơn tha thứ của Đức Chúa Trời!
III. Hai điểm phải suy gẫm.
A. Lời hứa của Đức Chúa Trời đã và sẽ không bao giờ thay đổi.
Đức Chúa Trời hứa với Ápraham rằng Dòng Dõi của ông, trong Chúa Jêsus mọi người trên thế gian sẽ được phước. Thời gian không làm thay đổi lời hứa ấy. Luật pháp đã không làm thay đổi lời hứa ấy. Văn hoá và xã hội không thể làm thay đổi lời hứa ấy. Mọi lầm lỗi, thất bại và tội lỗi của quí vị không làm thay đổi lời hứa ấy. Quí vị chỉ phải kêu van cho có chiếc chìa khoá thôi. Giăng 1.12-13 chép: "Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài, là kẻ chẳng phải sanh bởi khí huyết [không phải vì họ là người Do thái], hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người [không phải vì họ tuân giữ luật pháp hay là người nhơn đức], nhưng sanh bởi Đức Chúa Trời vậy".
B. Một tội nhân phải bị từ chối trước khi người được cứu.
Dietrich Bonhoeffer, vị Mục sư lỗi lạc người Đức, ông đã nói nghịch lại quân Phát xít trong Đệ II Thế Chiến đã viết: "Khi người nào phục theo luật pháp, người đó mới có thể nói tới ân điển… Tôi không nghĩ là Cơ đốc nhân muốn lãnh hội Tân Ước theo cách mau mắn và trực tiếp". Stott nói thêm: "Chúng ta không thể phớt lờ luật pháp mà đi thẳng đến với Tin Lành. Làm thế là đi ngược lại với chương trình của Đức Chúa Trời trong lịch sử Kinh Thánh".
Có lẽ người ta không đánh giá đúng Tin lành vì họ chưa đánh giá đúng luật pháp. Chúng ta thường bỏ ngọc trai ở trước miệng heo (Mathiơ 7.6). Chúng không thể thấy được vẽ đẹp của ngọc trai Tin lành vì luật pháp của Đức Chúa Trời không tỏ ra cho chúng thấy sự bẩn thỉu của chuồng heo. Stott nói thêm: "Đừng đợi cho tới khi luật pháp đánh cho bầm tím thì chúng ta mới nhìn nhận nhu cầu của chúng ta về Tin lành băng bó các vết thương của chúng ta. Đừng đợi cho tới khi luật pháp bắt lấy và nhốt tù chúng ta thì chúng ta mới khao khát Đấng Christ đến buông tha cho chúng ta. Đừng đợi cho tới khi luật pháp xét đoán và giết chết chúng ta thì chúng ta mới kêu cầu Đấng Christ để được xưng công bình và sự sống. Đừng đợi cho tới khi luật pháp đưa chúng ta vào chỗ thất vọng thì chúng ta mới chịu tin theo Chúa Jêsus. Đừng đợi cho tới khi luật pháp đánh hạ chúng ta thậm chí xuống tới địa ngục thì chúng ta mới quay trở lại với Tin lành đưa chúng ta lên thiên đàng".

Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2011

Galati 3.6-14: "Cha nào con nấy"

Tự do thực – Galati
Cha nào con nấy
Galati 3.6-14
Lâu, lâu lắm rồi ở một nơi xa xôi kia, Đức Chúa Trời đã phán với một người có tên là Ápram. Ápram đã sống trong một thành phố gọi là Urơ xứ Canhđê gần thành phố Bagdad hiện đại hôm nay. Ông không còn là một thanh niên nữa. Thực vậy, ông đã được 75 tuổi rồi. Chúng ta không biết Đức Chúa Trời đã phán với ông trong một giấc chiêm bao trong ban đêm hay một sự hiện thấy trong ban ngày. Ngài phán: "cùng Áp-ram rằng: Ngươi hãy ra khỏi quê hương, vòng bà con và nhà cha ngươi, mà đi đến xứ ta sẽ chỉ cho. Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn; ta sẽ ban phước cho ngươi, cùng làm nổi danh ngươi, và ngươi sẽ thành một nguồn phước. Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước cho ngươi, rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi; và các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước" (Sáng thế ký 12.1-3). Ápraham đã tin theo Đức Chúa Trời. Ngay lập tức ông bỏ hết mọi sự lại ở sau lưng, cuộc sống mà ông đã gầy dựng trong 75 năm để đi theo Đức Chúa Trời. Thêm nữa, ông còn không biết mình sẽ đi đâu nữa là.
Khi Ápraham băng ngang qua đồng vắng đi theo tiếng nói của Đức Chúa Trời, Đức Giêhôva cứ tiếp tục trao đổi với ông về phương thức dòng dõi ông sẽ kế tự cả đất nầy. Có một vấn đề ở đây. Ápraham chưa có một mụn con nào hết. Sau cùng, Ápraham đã trình với Đức Chúa Trời rằng làm thế nào ông có được dòng dõi khi ông là một cụ già mà chưa có con cái. Đức Chúa Trời "dẫn ông ra ngoài" túp lều rồi bảo ông ngước mắt nhìn lên bầu trời đầy sao lúc nửa đêm. Ngài phán: "Ngươi hãy ngó lên trời, và nếu ngươi đếm được các ngôi sao thì hãy đếm đi". Đức Chúa Trời hứa: "Dòng-dõi ngươi cũng sẽ như vậy" (Sáng thế ký 15.5). Về sau Đức Chúa Trời tái khẳng định lại lời hứa. Ngài phán: "sẽ ban phước cho ngươi, thêm dòng dõi ngươi nhiều như sao trên trời, đông như cát bờ biển, và dòng dõi đó sẽ chiếm được cửa thành quân nghịch. Bởi vì ngươi đã vâng theo lời dặn ta, nên các dân thế gian đều sẽ nhờ dòng dõi ngươi mà được phước" (Sáng thế ký 22.17-18). Kinh Thánh phán: "Ápraham tin theo Đức Giêhôva và Ngài kể ông là công bình".
Khi chúng ta mở Kinh Thánh Tân Ước ra ở Luca 3, khoảng 2.000 năm sau đó, chúng ta thấy Giăng Báptít đang nói với người Pharisi, các cấp lãnh đạo tôn giáo của dân Israel. Họ đã đến gặp Giăng muốn chịu ông làm phép báptêm cho. Giăng nói khi quở trách họ: "Thế thì, hãy kết quả xứng đáng với sự ăn năn; và đừng tự nói rằng: Áp-ra-ham là tổ phụ chúng ta; vì ta nói cùng các ngươi, Đức Chúa Trời có thể khiến từ những đá nầy sanh ra con cái cho Áp-ra-ham được".
Con cái ra từ hòn đá, một nước mạnh mẽ ra từ dòng dõi của một cụ già, Đức Chúa Trời của chúng ta là một Đức Chúa Trời Toàn Năng hay làm phép lạ, hay giữ lời hứa. Đúng vậy, Đức Chúa Trời vẫn còn giữ những lời hứa ấy. Ngài vẫn còn gây dựng một nước lớn từ gia phổ của Ápraham và vẫn còn dấy lên con cái của Ápraham từ những tấm lòng bằng đá.
Khi tôi dự kỳ trại của Hội thánh lúc còn là một thiếu niên, chúng tôi đã hát một bài ca có tên là "Cha Ápraham". Bài ca ấy có lời như sau: "Cha Ápraham có nhiều con cháu. Nhiều con cái có Cha Ápraham. Và tôi là một trong số đó và bạn cũng thế, vì vậy chúng ta hãy cùng ngợi khen Chúa". Bài ca ấy có đủ thứ động lực đã được sắp xếp để vực chúng ta dậy và khiến cho chúng ta sẵn sàng với thời thế. Tuy nhiên, bài ca ấy thốt ra một lẽ thật thuộc linh, bởi đức tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ, chúng ta là con cái của Ápraham, chúng ta là những người Do thái chơn thật.
Các tổ phụ của tôi là tín đồ hệ phái Trưởng Lão Tô cách Lan và là những người Anh Báptít. Đối với sự hiểu biết của tôi, tôi chẳng có một dấu vết gì về huyết thống Do thái cả. Thế mà tôi vẫn là một người Do thái, một con cháu của Ápraham… không phải bởi huyết thống mà là bởi đức tin.
Trong phân đoạn Kinh Thánh gốc, sứ đồ Phaolô tiếp tục dạy rằng ơn cứu rỗi là bởi ân điển của Đức Chúa Trời, chớ chẳng phải bởi việc làm đâu. Thực thế, ơn cứu rỗi luôn luôn có bởi ân điển nhờ đức tin và chẳng bao giờ bởi việc làm cả. Ngay cả Ápraham, tổ phụ của dân Do thái đã được cứu bởi ân điển nhờ đức tin. Chúng ta đã trở thành con trai con gái thuộc linh của Ápraham, là người Do thái thực bởi đức tin. Chúng ta hãy xem xét ba lẽ thật từ phân đoạn Kinh Thánh gốc nầy.
I. Đức tin đem lại sự công bình (các câu 6-9).
A. Đức tin của Ápraham đã được kể là công bình cho ông (câu 6).
Các Hội thánh xứ Galati đã được thiết lập chủ yếu gồm các dân Ngoại, là những người đã tin theo Chúa Jêsus dưới chức vụ của Phaolô. Sau khi Phaolô rời khỏi họ, một số các giáo sư giả người Giu-đa ai cũng biết là những người Do thái theo giáo Giu-đa đã luồn lách vào trong Hội thánh. Họ dạy các Cơ đốc nhân dân Ngoại nầy là muốn được cứu, họ phải giữ theo luật pháp Môise và phải chịu phép cắt bì. Trong phân đoạn Kinh Thánh nầy, Phaolô dường muốn nói: "Vậy thì anh em muốn nói về ơn cứu rỗi sao? Anh em muốn nói tới luật pháp chăng? Chúng ta không ngừng nghỉ ở đó với Môise, chúng ta hãy đi suốt con đường trở ngược lại với người Do thái đầu tiên. Chúng ta hãy nói tới Ápraham, là tổ phụ của dân Do thái".
Những người theo giáo Giu-đa đều biết rõ lời hứa, giao ước mà Đức Chúa Trời đã thiết lập với Ápraham. Họ biết rõ nơi ông "mọi chi tộc trên thế gian đều sẽ được phước". Tuy nhiên, họ lý luận rằng nếu các dân Ngoại đều sẽ được phước trong Ápraham, họ sẽ phải trở nên giống như Ápraham và chịu phép cắt bì.
Trong thời của chúng ta, hầu hết các trẻ sơ sinh đều chịu phép cắt bì vì lý do sức khoẻ. Trong các thời kỳ Kinh Thánh thì chẳng phải như vậy đâu. Đức Chúa Trời đã ra lịnh cho Ápraham phải chịu phép cắt bì và phải làm phép cắt bì cho con cái của ông. Ngài phán trong Sáng thế ký17.10: "Mỗi người nam trong vòng các ngươi phải chịu phép cắt bì; ấy là giao ước mà các ngươi phải giữ, tức giao ước lập giữa ta và các ngươi, cùng dòng dõi sau ngươi". Phép cắt bì, là sự cắt bao quy đầu, là một dấu hiệu chỉ ra nhu cần cắt đứt tội lỗi ra khỏi tấm lòng. Là một chi tiết trong bộ phận sinh dục, nó cũng làm biểu tượng chỉ ra bản chất tội lỗi mà chúng ta sẽ thừa hưởng.
Phaolô chỉ ra điều các giáo sư giả nầy dạy còn thiếu sót, ấy là Ápraham đã được cứu từ lâu trước khi Đức Chúa Trời truyền cho ông phải chịu phép cắt bì. Sau khi trưng dẫn Sáng thế ký 15.6, Phaolô nhắc cho họ nhớ Kinh Thánh dạy: "Ápraham tin Đức Chúa Trời thì đã kể là công bình cho người".
Đức Chúa Trời bảo Ápraham phải theo Ngài phải tin nơi lời thật khó tin của Ngài. Ápraham đã tin theo và Đức Chúa Trời đã "kể" hay xem ông là công bình. Ápraham đã được cứu bởi tin chớ không phải bởi thành tựu. Ápraham đã được cứu ít nhất 14 năm trước khi ông được truyền cho phải chịu phép cắt bì. Ông đã sống mấy trăm năm trước khi Đức Chúa Trời ban luật pháp cho Môise.
Phép cắt bì là một dấu hiệu, chớ không phải là phương tiện của sự cứu rỗi. Cũng một thể ấy, phép báptêm là một biểu tượng, chớ không phải là thực thể của sự cứu rỗi đâu. Luôn luôn có một phương thức để được cứu, để làm hoà lại với Đức Chúa Trời và đó là đức tin.
B. Chúng ta trở nên con trai con gái của Ápraham bởi Đức tin (các câu 7-9).
Kế đó, Phaolô nói: "vậy anh em hãy nhận biết rằng những kẻ có đức tin là con cháu thật của Áp-ra-ham".
Ngày nay có một thắc mắc chính giữa vòng dân Do thái, ấy là “ai mới là người Do thái thực?” Nói chung, một người Do thái được xác định là một người có mẹ là người Do thái. Điều nầy có những sự phân nhánh quan trọng trong Israel giống như nó gắn liền với luật nhập cư và là người có thể giữ chức vụ trong xã hội.
Trong câu nầy, Phaolô đang nói tới hai hàm ý rất quan trọng. Thứ nhứt, người nào sanh ra là người Do thái chưa thực sự là người Do thái. Thứ hai, người nào sanh ra không phải là người Do thái có thực sự là người Do thái không? Có nhầm lẫn không? Còn tùy!
Thứ nhứt, người nào sanh ra là người Do thái chưa thực sự là người Do thái. Có những người với huyết thống Do thái nhưng chưa phải là chi thể trong gia đình của Đức Chúa Trời. Phaolô nói: "chỉ những kẻ có đức tin mới là con cháu thật của Ápraham". Một người sanh ra có thể là người Do thái, chịu phép cắt bì rồi tuân giữ mọi quy tắc, nghi thức, và điều lệ của Do thái giáo, thế mà vẫn chưa dám xưng mình là hợp pháp với Ápraham. Tại sao vậy? Vì mối quan hệ họ hàng với Ápraham đến qua đức tin, chớ không phải do di truyền hay do luật pháp.
Trong một ý nghĩa tương tự, tôi biết có nhiều người tin họ là Cơ đốc nhân rất đơn giãn chỉ vì bố mẹ họ là Cơ đốc nhân hoặc vì họ đã lớn lên trong nhà thờ và trong một gia đình Cơ đốc. Bố mẹ của quí vị không thể cứu quí vị được đâu. Nhà thờ của quí vị không thể cứu quí vị được đâu. Phương thức duy nhứt bất kỳ ai sẽ được cứu, thậm chí ngay cả cụ Ápraham đều phải nhờ đức tin mà thôi!
Thứ hai, Phaolô gợi ý cho thấy rằng người nào sanh ra không phải là người Do thái, lại thực sự là người Do thái. Một lần nữa trong câu 7, chúng ta đọc thấy rằng chính "những kẻ có đức tin" mới là con cháu của Ápraham. Quí vị không phải sanh ra là người Do thái mới là con cháu của Ápraham nhưng quí vị còn phải được sanh lại nữa!
Chúng ta không phải trở thành người Do thái. Chúng ta không nhất thiết phải cải đạo. Chúng ta không phải chịu phép cắt bì. Chúng ta không phải giữ luật lệ cùng các nghi thức Cựu Ước. Chúng ta phải đến nhơn "đức tin".
Từ lâu lắm trước khi Chúa Jêsus giáng sinh tại thành Bếtlêhem, từ lâu lắm trước khi Ngài chịu chết trên thập tự giá của người Lamã và đã sống lại ra khỏi ngôi mộ mượn kia, Đức Chúa Trời đã "rao giảng Tin lành [các tin tức tốt lành] cho Ápraham" rằng nơi ông "hết thảy các chi tộc trên thế gian sẽ được phước". Chúng ta được "phước" nhờ có Ápraham. Qua gia đình của Ápraham, Cứu Chúa, Đức Chúa Jêsus Christ đã đến. Nơi Ápraham chúng ta có đức tin để chúng ta phải tin theo Chúa Jêsus.
Phaolô nói: "vậy, anh em hãy nhận biết rằng những kẻ có đức tin (dù họ là người Do thái hay là dân Ngoại, nam hay nữ, đen hay trắng] đều là con cháu của Ápraham". Hết thảy những ai tin Chúa đều là con cháu của Ápraham bởi đức tin chớ không phải bởi huyết thống.
Ápraham biết rất ít về Chúa nhưng khi ông nghe tiếng của Ngài, ông đã vâng theo. Chúng ta biết rất nhiều về Chúa. Chúng ta biết rõ đầy đủ Tin lành nói rằng Chúa Jêsus đã chịu chết vì tội lỗi chúng ta, bị chôn và đã sống lại. Khi chúng ta luyện tập đức tin nơi các tin tức tốt lành đó, chúng ta cũng đã được cứu, đức tin của chúng ta được "kể là công bình".
II. Luật pháp đem lại sự rủa sả (các câu 10-12).
Các giáo sư giả nói rằng tin theo Chúa Jêsus chưa phải là đủ cho một người, người ấy cũng phải chịu phép cắt bì. Thêm nữa, họ còn nói thêm rằng người ấy cũng phải tuân giữ luật pháp và truyền khẩu của Cựu Ước nữa. Phaolô đã chỉ ra rằng Ápraham đã được cứu bởi đức tin từ lâu trước khi luật pháp được ban ra. Giờ đây, ông chỉ ra sự hư không của việc tuân giữ luật pháp. Người nào ra sức tuân giữ luật pháp đang "bị rủa sả".
A. Những điều luật pháp đòi hỏi.
Thứ nhứt, luật pháp đòi hỏi sự làm theo. Phục truyền luật lệ ký 27.26 chép: "Đáng rủa sả thay kẻ nào không giữ các lời của luật pháp nầy để làm theo!" Có lẽ đây là một câu Kinh Thánh rất ưa thích đối với những kẻ theo giáo Giu-đa. Hãy khoanh tròn chữ "làm theo". Biết rõ luật pháp hay nhất trí với luật pháp cũng chưa phải là đủ, một người còn phải "làm theo" luật pháp nữa. Quí vị có luôn luôn "làm theo" luật lệ của con người, ít nhiều gì cũng là luật pháp của Đức Chúa Trời không?
Thứ hai, luật pháp đòi hỏi phải làm theo thật trọn vẹn. Hãy khoanh tròn cụm từ "mọi sự". Nếu quí vị đang ra sức tuân giữ luật pháp, quí vị phải tuân giữ "mọi sự" trong luật pháp. Một là giữ mọi sự, hai là chẳng giữ gì hết. Quí vị không phải lọc lựa rồi chọn đâu! Khi chàng trai trẻ giàu có bị chất vấn về việc tuân giữ luật pháp, chàng ta đáp: "Còn điều nào nữa không?" Hết thảy các luật lệ ấy! Giacơ 2.10 chép: "Vì người nào giữ trọn luật pháp, mà phạm một điều răn, thì cũng đáng tội như đã phạm hết thảy".
Đức Chúa Trời xét đoán bằng nhiều tiêu chuẩn khác nhau. Trong quyển Chúng ta sống bằng lời, Brian Burrell thuật lại về tên cướp có vũ trang tên là Dennis Lee Curtis, hắn đã bị bắt vào năm 1992 tại thành phố Rapid, South Dakota. Curtis chắc chắn đã có những cân nhắc, thận trọng về thói ăn cướp của mình. Trong túi đồ của hắn, cảnh sát tìm thấy một tập giấy, có ghi hàng chữ trên đó như sau: "1. Ta không giết ai trừ phi ta phải giết. 2. Ta sẽ lấy tiền mặt và thực phẩm có dám tem hẳn hòi — không lấy ngân phiếu. 3. Ta sẽ cướp vào ban đêm. 4. Ta sẽ không mang mặt nạ. 5. Ta sẽ không đánh cướp tiểu siêu thị hay 7- Mười một cửa hàng. 6. Nếu ta bị cảnh sát rượt đuổi, ta sẽ bỏ chạy. Nếu bị rượt bằng xe hơi, ta sẽ không xem trọng sinh mạng của cư dân vô tội. 7. Ta sẽ cướp chỉ 7 tháng trong năm mà thôi. 8. Ta sẽ thích cướp bóc từ nhà giàu rồi bố thí cho người nghèo". Tên cướp nầy đã có một nhận thức về đạo đức, nhưng nhận thức ấy không hoàn hảo lắm. Khi anh ta ra trước toà, anh ta không bị xét đoán theo các tiêu chuẩn mà anh ta đề ra cho bản thân mình mà bị xét đoán theo luật pháp cao hơn của tiểu bang. Tương tự thế, khi chúng ta đứng trước mặt Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ không bị xét đoán bởi bộ luật đạo đức mà chúng ta đề ra cho chính bản thân mình, mà một phải theo luật pháp trọn vẹn của Đức Chúa Trời.
Thứ ba, luật pháp đòi hỏi sự làm theo trọn vẹn cách liên tục. Hãy khoanh tròn chữ "bền đỗ". Quí vị phải làm theo luật pháp. Quí vị phải làm theo hết thảy các luật lệ. Quí vị phải giữ luôn việc làm theo tất cả luật lệ mỗi ngày trong đời sống của quí vị. Nếu quí vị có thể làm theo hết thảy luật lệ và quí vị làm theo nó mỗi ngày trong đời sống của mình cho tới ngày quí vị qua đời và quí vị phạm phải một điều, chỉ một điều luật nhỏ nhoi thôi. Quí vị sẽ bị nguyền rủa cho đến đời đời.
B. Những gì luật pháp không thể làm.
Chắc chắn là không một người nào có thể tuân giữ luật pháp. Thực vậy, "Vì mọi kẻ cậy các việc luật pháp, thì bị rủa sả". Tại sao những kẻ cậy các việc luật pháp bị "rủa sả"? Vì như câu 11 chép: "chẳng hề có ai cậy luật pháp mà được xưng công bình [hoà thuận lại với Đức Chúa Trời] trước mặt Đức Chúa Trời, điều đó là rõ ràng lắm". Không một ai có thể thoả mãn mọi đòi hỏi của luật pháp và vì cớ đó bất cứ ai cố gắng sẽ bị rủa sả.
Quí vị là ai thì không thành vấn đề, dù quí vị là người Do thái hay dân Ngoại, dù quí vị sống trong nhà thờ cả đời hay hôm nay là ngay thứ nhứt của mình. Nếu quí vị đang cố gắng làm đẹp lòng Đức Chúa Trời bằng cách nhơn đức thể nào đi nữa quí vị chỉ có thể là quí vị thôi, quí vị sẽ chẳng bao giờ được khá hơn đâu. Quí vị đã bị "rủa sả".
Luật pháp không thể cứu, nó chỉ đem lại sự rủa sả mà thôi. Tuy nhiên, các tin tức tốt lành chỉ ra cho chúng ta thấy chúng ta được cứu bởi đức tin. Phaolô nói thêm ở phần cuối câu 11: "vì người công bình sẽ sống bởi đức tin". Ông nói thêm trong câu 12: "Vả, luật pháp vốn không phải đồng một thứ với đức tin".
III. Chúa Jêsus đem lại nhiều ơn phước (các câu 13-14).
Luật pháp đặt chúng ta "dưới sự rủa sả", còn Chúa Jêsus đã gánh sự rủa sả của chúng ta trên chính mình Ngài. Theo cách thức nầy Ngài "đã chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp".
"Chuộc" có ý nói Chúa Jêsus đã trả giá cho tội lỗi của chúng ta, vì chúng ta thất bại không giữ được luật pháp của Đức Chúa Trời. Ngài đã làm cho chúng ta những gì chúng ta không thể làm được. Nghệ sĩ Kevin Bacon thuật lại đứa con trai 6 tuổi của ông đã xem phim Footloose lần đầu tiên. Nó nói: "Bố ơi, bố biết câu chuyện trong phim chỗ bố đu từ cây xà của toà nhà kia đó? Chỗ ấy lạnh lắm, làm sao bố chịu được hả bố?" Bacon đáp: "Ừ, bố không làm phần đó – mà là diễn viên đóng thế làm đấy". "Diễn viên đóng thế là sao hả bố?" cậu bé cứ hỏi tới. "Đó là người ăn mặc y như bố và làm những việc mà bố không phải làm". "Ồ" nó đáp rồi bước ra khỏi phòng ngẩn ngơ nhìn. Một lát sau nó nói: "Nào, bố ơi, bố biết chuyện trong phim, chỗ bố xoay tròn thanh xà rồi đáp xuống đất? Làm sao bố làm được vậy?" Bacon đáp: "Đúng rồi, bố không làm việc ấy. Đó là một vận động viên thể dục làm đấy". "Vận động viên thể dục là sao ạ?" nó hỏi. "Đó là một người mặc y phục của bố và làm những việc mà bố không thể làm". Có sự im lặng từ phía con trai tôi, kế đó nó hỏi với một giọng rất quan tâm: "Bố ơi, thế bố đã làm việc gì?" "Bố nhận hết mọi sự vinh quang", ông đáp cách ngượng ngùng. Đó là ân điển của Đức Chúa Trời trong đời sống của chúng ta. Chúa Jêsus đã gánh lấy tội lỗi của chúng ta trên chính mình Ngài và đã chịu lấy mọi điều mà chúng ta không thể chịu nổi. Chúng ta đứng vững, được tha thứ và hưởng lấy sự đắc thắng trong vinh quang của Chúa Jêsus.
Chúa Jêsus đã "chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp" như thế nào? Ngài đã trở nên "sự rủa sả vì chúng ta". Phaolô kế đó trưng dẫn từ Phục truyền luật lệ ký 21.23: "Đáng rủa thay là kẻ bị treo trên cây gỗ". Trong Israel chỉ có tội phạm tệ hại nhất mới bị treo trên cây gỗ hay bị đóng đinh trên thập tự giá. Đó là cách chết tệ hại nhất. Không có gì phải ngạc nhiên, chính Chúa Jêsus đã kêu la bằng lời lẽ của Thi thiên 22: "Đức Chúa Trời tôi ôi! Đức Chúa Trời tôi ôi! Sao Ngài lìa bỏ tôi?"
Chính sự kiện Chúa Jêsus đã chịu chết bằng một phương thức khủng khiếp như thế làm thành mối ngăn trở khó vượt qua đối với nhiều người Do thái. Nếu Chúa Jêsus thực sự là Con của Đức Chúa Trời, tại sao Đức Chúa Trời lại để cho Con độc sanh của Ngài, là người thực sự công bình duy nhứt phải chết một cái chết đáng rủa sả khủng khiếp như thế trên thập tự giá?
Đức Chúa Trời là thánh. Ngài không thể miễn trừ hay bỏ quên tội lỗi của chúng ta được đâu! Chúng ta bị rủa sả bởi chúng ta bất khả không thể tuân giữ luật pháp và sự rủa sả ấy phải được trả giá đầy đủ. Chúa Jêsus đã bằng lòng gánh lấy tội lỗi chúng ta trên chính mình Ngài. Ngài gánh lấy sự sủa sả của chúng ta trên thân thể Ngài rồi chịu chết trên thập tự giá trong chỗ của chúng ta.
Hãy tưởng tượng một kẻ giết người bị kết án phải chịu chết xem. Mọi lời kêu nài của hắn đều bị bác bỏ hết. Giờ của hắn đã đến. Án tử hình của hắn đã được ký rồi. Giống như họ sắp sửa dùng dây da cột hắn lại rồi tiêm cho hắn một loại hoá chất sẽ kết liễu cuộc đời của hắn, có một người ngồi trong phòng quan sát kêu lên: "Hãy dừng tay lại! Anh ta không phải chết! Tôi sẽ ngồi ở chỗ của anh ta. Hãy cột tôi vào ghế đi. Hãy tiêm tôi bằng thứ thuốc ấy. Tôi sẽ ngồi chỗ của anh ta". Trong khi sự việc nầy có lẽ không bao giờ xảy ra trong hệ thống luật pháp của chúng ta, nó đã xảy ra cho mỗi một chúng ta. Chúa Jêsus đã gánh lấy chỗ của chúng ta.
Trong khi sự chết của Chúa Jêsus là đủ để trả giá cho tội lỗi của từng người, sự chết ấy không trả giá cách máy móc cho tội lỗi của từng người đâu. Mỗi người phải luyện tập đức tin nơi Chúa Jêsus giống như Ápraham đã tin theo Đức Chúa Trời vậy.
Phaolô nói kết quả sẽ như sau: "phước lành ban cho Áp-ra-ham nhờ Đức Chúa Jêsus Christ mà được rải khắp trên dân ngoại, lại hầu cho chúng ta cậy đức tin mà nhận lãnh Đức Thánh Linh đã hứa cho".
Năm 1961 sau khi bức màn sắt chia hai Bá linh và Nước Đức giữa Đông và Tây, Tổng thống John F. Kennedy đã thân hành đến Bá linh và phát ra một thông điệp nổi tiếng trước hàng triệu người Đức. Ông nói: "Ich bin ein Berliner" [Tôi là một người Bá linh]. Kennedy không có một tiểu cầu máu người Đức nào hết. Ông hoàn toàn là người Ái nhĩ Lan. Tuy nhiên khi ông đưa ra câu nói đó, đám dân đông kia đã vỗ tay reo hò tán thưởng. Tại sao chứ? Vì Kennedy đã tỏ ra một sự hiệp một về tinh thần với người Đức nào chịu sống vượt cao hơn chủ nghĩa Cộng sản.
Tôi là một con cái của Ápraham. Tôi chẳng có một giọt máu nào là người Do thái hết. Tôi không giữ luật pháp hay thói tục. Tuy vậy, tôi là người Do thái còn hơn cả hầu hết những ai đến thờ lạy trong Đền thờ ngày hôm qua. Tôi là dòng dõi của Ápraham và dự phần vào ơn phước của Ápraham bởi đức tin.
Tuần nầy tôi có đọc Kinh Thánh khi Đức Thánh Linh soi sáng một phân đoạn Kinh Thánh tuyệt vời ở Thi thiên 87.1-6. Cho phép tôi đọc phân đoạn ấy: "Cái nền Ngài đã đặt trên các núi thánh. Đức Giê-hô-va chuộng các cửa Si-ôn hơn những nơi ở của Gia-cốp. Ớ thành của Đức Chúa Trời, đã được nói những sự vinh hiển về ngươi. Ta sẽ nói đến Ra-háp và Ba-by-lôn, là những người trong bọn quen biết ta; Kìa là Phi-li-tin, và Ty-rơ, với Ê-thi-ô-bi: Kẻ nầy đã sanh ra tại Si-ôn. Phải, người ta sẽ nói về Si-ôn rằng: Kẻ nầy và kẻ kia đã sanh ra tại đó; Chính Đấng Chí cao sẽ vững lập Si-ôn. Khi Đức Giê-hô-va biên các dân vào sổ, thì Ngài sẽ kể rằng: Kẻ nầy đã sanh tại Si-ôn”. Thực vậy, dù tôi sanh đẻ tại Texas, tôi thực sự đã "sanh tại Siôn". Tôi là một chi thể của dân sự đời đời của Đức Chúa Trời, một đoàn đông kẻ được chuộc bởi đức tin nơi Chúa Jêsus!
Tuần nầy có người gửi cho tôi một bài viết cắt ra từ cột hướng dẫn tin kính Daily Bread. Bài viết yêu cầu độc giả tưởng tượng du lịch sang Paris rồi đứng trước bức họa Mona Lisa nổi tiếng của Leonardo da Vinci. "Quí vị có nghĩ tới việc cầm lấy màu và cọ vẽ chạm tới bức tranh không? Có thể tô một chút màu lên hai gò má của nàng không? Có lẽ nên thay đổi một ít nơi sóng mũi của nàng?" Quí vị nói: "Làm thế lố bịch quá!" "Trong gần 500 năm bức tranh Mona Lisa đã được xem là một trong những công tác nghệ thuật lỗi lạc nhất của mọi thời đại. Quả là lố bịch dường bao khi nghĩ chúng ta có thể thêm một điều gì đó vào kiệt tác nầy". Tuy nhiên, đấy là những gì chúng ta làm khi chúng ta cố gắng thêm vào kiệt tác của Đức Chúa Trời, là sự cứu rỗi bởi thập tự giá của Đấng Christ. Họ nghĩ họ phải cải thiện luôn với loại cọ màu sức riêng của chính họ. Quí vị không thể kiếm được ơn cứu rỗi ấy. Quí vị không thể thêm gì vào ơn ấy. Quí vị chỉ phải tiếp nhận ơn ấy mà thôi.