Thứ Sáu, 27 tháng 5, 2011

Galati 5.13-15: "Mục đích của sự tự do"

Tự do thực – Galati
Mục đích của sự tự do
Galati 5.13-15
Khi tôi còn nhỏ, người ta đã dạy tôi về chủ nghĩa yêu nước. Vào lúc bắt đầu buổi học trong lớp cấp 1 của Bà Langston, chúng tôi đặt hai bàn tay của mình lên ngực rồi thốt ra lời thề trung thành, sự đầu phục của chúng tôi đối với lá cờ nước. Khi tôi lớn lên, tôi học biết rằng chúng tôi những người Mỹ vốn xem trọng sự tự do vì đã được nó rất khó nhọc từ nước Anh. Ở những địa điểm giống như Đồi Bunker, Brandywine và trũng Forge, những người yêu nước đã chịu đựng nhiều nổi khó nhọc khôn tả xiết, họ đã đổ máu, đã ngã chết để bảo đảm cho sự tự do của chúng ta. Các tổ phụ của chúng ta không những đã đánh trận để kiếm được sự tự do, mà còn gìn giữ sự tự do của chúng ta nữa. Trên những bãi chiến trường gần và xa, hết thế hệ nầy tới thế hệ khác, các chiến binh Mỹ đã dâng mạng sống của họ để bảo vệ sự tự do của chúng ta. Là một thanh niên, tôi nhận ra chủ nghĩa yêu nước nầy đã được khắc sâu vào chính gia đình của chúng tôi. Anh của tôi đã thi hành nghĩa vụ ở Việt nam. Bố tôi đã đánh trận ở Normandy trong suốt Đệ II Thế Chiến. Ông nội tôi đã chịu đựng với quyết tâm cao trong các giao thông hào đổ máu ở nước Pháp trong suốt Đệ I Thế Chiến. Tôi có những tổ phụ đã đánh trận trong Cuộc Nội Chiến. Tình yêu tự do ăn sâu trong xứ sở nầy và sẽ được truyền cho con cái và cháu chắt của chúng tôi. Chúng tôi đứng chào lá quốc kỳ. Chúng tôi phải cảm tạ Đức Chúa Trời mỗi ngày vì đặc ân được sống trong quốc gia rộng lớn nầy. Ngày nay chúng ta là một dân tự do vì các tiền nhân của chúng ta đã đem lại sự tự do cho chúng ta.
Khi chúng ta tiếp tục trong Galati 5, sứ đồ Phaolô bắt đầu tiểu đoạn nầy bằng cách nói. "Hỡi anh em, anh em đã được gọi đến sự tự do". Hãy gạch dưới chữ "được gọi". Quí vị không ĐẠT được sự tự do thuộc linh của mình. Quí vị không THỪA KẾ sự tự do thuộc linh của mình. Quí vị được "GỌI" đến với sự tự do thuộc linh đó. Đời sống của chúng ta trong Đấng Christ không bắt đầu với quyết định theo Chúa Jêsus mà với sự kêu gọi giàu ơn của Ngài trong đời sống của chúng ta .
Là những người Mỹ, chúng ta nhìn lại với lòng tự hào đối với những nhân vật như George Washington, Nathan Hale, Robert E. Lee, Sergeant Alvin York, Douglas MacArthur… bảng danh sách còn tiếp diễn và nhiều nữa. Chúng ta có lòng tự hào với sự thực rằng chúng ta đã đạt được những sự tự do về chính trị và về kinh tế của mình. Tuy nhiên, chúng ta không đạt được sự tự do về mặt thuộc linh, Chúa Jêsus đã đạt được sự tự do đó. Ngài ban cho chúng ta sự tự do đối với tội lỗi, tự do đối với luật pháp, tự do đối với sự phán xét, tự do đối với quyền lực và án phạt của tội lỗi. Chúng ta không chọn lấy sự tự do nầy cho tới chừng Ngài lựa chọn chúng ta.
Phaolô nhắc cho chúng ta nhớ và sách Galati ở 1.6 rằng Đức Chúa Trời đã "gọi anh em bởi ơn của Đức Chúa Jêsus Christ". Phaolô đã đạt tới mức hiểu biết Đức Chúa Trời đã "gọi" ông từ lâu trước khi ông nghe thấy tiếng của Chúa trong ánh sáng làm mù mắt trên con đường đến thành Đa-mách. Ông đã nói ở 1.15-16a rằng: "Nhưng khi Đức Chúa Trời, là Đấng đã để riêng tôi ra từ lúc còn trong lòng mẹ, và lấy ân điển GỌI TÔI, vui lòng bày tỏ Con của Ngài ra trong tôi…". Vì chúng ta được "kêu gọi đến với sự tự do" chúng ta cần phải "đứng vững…trong sự tự do mà Đấng Christ đã buông tha chúng ta….và chớ lại để mình dưới ách tôi mọi nữa" (5.1).
Mỉa mai thay, có nhiều người không nhìn thấy Cơ đốc giáo là tự do; họ nhìn thấy Cơ đốc giáo là nô lệ cho tôn giáo gồm danh sách những điều phải làm theo và những điều không nên làm theo. Chúa không hề dự trù cho chúng ta phải sống trong vòng nô lệ. Ngài đã ban cho chúng ta sự kêu gọi của ân điển. Không những sự kêu gọi nầy dành cho một số tín đồ thôi đâu, mà là dành cho hết thảy mọi người nữa. Đấy là lý do tại sao Phaolô nhắc cho người Galati nhớ rằng "Hỡi anh em, anh em đã được gọi đến sự tự do". Chúa đã giàu ơn "kêu gọi" từng anh chị em có lòng tin hãy sống theo và "đứng vững" trong sự tự do thuộc linh đó.
Điều nầy làm dấy lên một thắc mắc quan trọng, tại sao chúng ta được "kêu gọi đến với sự tự do?" Đâu là MỤC ĐÍCH của sự tự do của chúng ta? Trong các câu 13-15, vị sứ đồ giải đáp cho thắc mắc đó. Cả hai mặt tiêu cực và tích cực, Phaolô nói cho chúng ta biết lý do tại sao Đức Chúa Trời đã "kêu gọi" chúng ta đến với sự tự do về mặt thuộc linh.
Trước khi chúng ta hiểu điều chi là quan trọng chúng ta phải hiểu điều gì là không quan trọng. Trước khi chúng ta có thể hiểu mục đích của sự tự do, chúng ta hãy hiểu điều chi chẳng phải là mục đích đã.
I. Mục đích sự tự do của chúng ta không phải là phục vụ bản ngã (câu 13a).
Sau khi nhắc cho chúng ta nhớ rằng chúng ta đã được "gọi đến sự tự do", Phaolô truyền cho chúng ta đừng "lấy sự tự do đó làm dịp cho anh em ăn ở theo tánh xác thịt".
Trong Kinh Thánh, đặt biệt là Tân Ước, "xác thịt" không đề cập nhiều tới cơ bắp và da thịt của chúng ta như nó đề cập tới bổn tánh con người, tình trạng tư kỷ của tấm lòng chúng ta. Mỗi một người chúng ta ra đời với ý thức bẩm sinh về sự ích kỷ tự tỏ ra trong tánh tham lam, ganh tỵ, và miệt mài trong đủ thứ tội lỗi. Chúng ta thừa hưởng bản tánh tội lỗi nầy từ cha mẹ, họ đã nhận lãnh nó từ cha mẹ của họ và cứ thế mà trở lại với Ađam và Êva và sự Sa Ngã. Chúa Jêsus đã "buông tha cho chúng ta được tự do" nhưng mục đích của Ngài trong việc khiến cho chúng ta được tự do không phải để cho chúng ta nuôi dưỡng, ấp ủ những ham muốn tìm kiếm cái ngã của "xác thịt" chúng ta.
Hãy lưu ý cụm từ "làm dịp ăn ở theo tánh xác thịt". Cụm từ nầy ra từ một chữ Hy lạp đã được sử dụng trong phạm trù quân sự để mô tả một căn cứ của cuộc hành quân, một tiền đồn, một địa điểm mà từ đó mở ra một cuộc tấn công. Êphêsô 4.26-27 mang cùng một ý tưởng: "Ví bằng anh em đang cơn giận, thì chớ phạm tội; chớ căm giận cho đến khi mặt trời lặn, và đừng cho ma quỉ nhân dịp". Các tín đồ không nên dùng sự tự do của họ làm một sự bào chữa cho tội lỗi. Chúng ta không nên nhường cho kẻ thù một "chỗ" hay một cánh cửa "cơ hội" trong đời sống của chúng ta.
Lên tới điểm nầy trong sách Galati, Phaolô đã đánh trận với KHUYNH HƯỚNG QUAY VỀ VỚI LUẬT PHÁP, tôn giáo thiên về với hình thức, tuân thủ các nội quy và điều lệ. Giờ đây, ông đang nói tới mặt kia của đồng tiền, MÔN BÀI. Tự điển định nghĩa môn bài là "sự tự do cho phép hay được sử dụng với tinh thần vô trách nhiệm, chẳng đếm xỉa gì đến cách ứng xử cá nhân. Phóng túng".
Sự tự do thuộc linh có thể trở nên nguy hiểm khi đem áp dụng không đúng. Có người nhìn thấy ơn cứu rỗi của họ là một loại chính sách bảo hiểm thuộc linh. Họ tưởng họ có thể làm bất cứ điều chi họ muốn vì họ đã được "bảo kê". Họ biết rõ Chúa Jêsus đã trả giá cho tội lỗi của họ và họ sẽ được lên thiên đàng khi họ qua đời, vì vậy họ cảm thấy mình được tự do làm bất cứ điều chi làm cho họ thấy vui sướng trong lúc bây giờ.
Tôi có một người bạn Mục sư rất được ơn, ông nầy có phước với một người vợ rất đẹp, mấy đứa con xinh tốt và một chức vụ rất tấn tới. Dường như ông ấy có mọi sự trong cuộc sống của mình. Tuy nhiên, các ơn phước dư dật của Đức Chúa Trời không đủ cho ông ấy. Ông muốn nhiều hơn nữa. Ông bị một thiếu nữ trẻ tuổi lôi cuốn, cô nầy ở trong hội chúng của ông và bắt đầu tình tự với nàng. Tội lỗi đã đến gõ cửa khi ông nhận thấy cuộc hôn nhân của nàng không phải là một cuộc hôn nhân suông sẻ. Trước đó lâu lắm, họ đã vụng trộm hẹn hò với nhau. Đây không phải là một chuyện tình cảm đâu; MÀ ĐÓ LÀ TÀ DÂM! Khi họ bị cuốn vào nhau không thể tránh được, họ đã phá hủy hai cuộc hôn nhân, đời sống của mấy đứa con khi tuổi chúng còn niên thiếu và khiến cho một Hội thánh tốt đẹp phải đến với hai đầu gối của họ. Tác dụng mạnh của tội lỗi ông, sự ông không thể kềm giữ được "xác thịt" của mình đã chạm tới hàng trăm đời sống. Khi tôi trao đổi với ông ấy, ông than thở với thái độ không ăn năn: "Tôi biết Đức Chúa Trời yêu thương tôi, anh không nghĩ là Đức Chúa Trời muốn tôi sống sung sướng sao?"
Có điều chi sai với hình ảnh nầy? Đây là một người đã sử dụng sự tự do của Chúa “làm dịp ăn ở theo tánh xác thịt”. Ông đã sử dụng sự tự do thuộc linh của mình để cho ma quỉ mở ra cuộc tấn công vào đời sống của ông.
Quí vị hãy lắng nghe đây! Chúa Jêsus đã chịu thương khó và chịu chết trên thập tự giá để buông tha cho quí vị thật được tự do ở ngoài tội lỗi chớ không phải ban cho quí vị sự tự do để phạm tội đâu! Ngài ban cho quí vị sự tự do để hầu việc Đức Chúa Trời và tha nhân chớ không phải để chìm đắm trong sự ích kỷ của chính mình!
I Phierơ 2.16 chép, chúng ta cần phải ăn ở "như người tự do, nhưng chớ dùng tự do làm cái màn che sự hung ác, song phải coi mình là tôi mọi Đức Chúa Trời". Cái "màn" là một sự che đậy, giống như áo khoác ngoài. Tôi có một chiếc áo khoác bằng len dày mà tôi đã mặc trong thời tiết cực lạnh. Nó che phủ tôi từ cổ xuống tới đầu gối. Nó che phủ tôi mọi thứ mà tôi đang mặc. Trong các cuộn phim xưa, những tay cao bồi hay mang súng, sẽ đem theo súng của họ dưới lớp áo choàng hầu cho chẳng ai nhìn thấy chúng được. Phierơ cho chúng ta biết rằng chúng ta không cần phải che đậy "tội ác" hay tình trạng tội lỗi bằng “sự tự do thuộc linh” của mình. Chúng ta không cần phải che đậy tội lỗi của mình và tha thứ cho nó bằng cách nói rằng: "Đấng Christ đã buông tha cho chúng ta được tự do”.
Có người xưng nhận mình là Cơ đốc nhân và tin họ có thể uống rượu, sử dụng ma túy, đắm mình trong phim ảnh và sách báo khiêu dâm, rồi sống trong một sự dửng dưng tôn cao cái tôi rồi lấy mình làm trọng. Họ sẽ báo cho quí vị biết rằng họ dám chắc họ đã được cứu và Chúa Jêsus đã buông tha cho họ thực được tự do. Tôi rất nghi ngại, người nào cứ khăng khăng với một lối sống như thế chưa hề được cứu trong chỗ đầu tiên. Rôma 6.18 chép: “Vậy, anh em đã được buông tha khỏi tội lỗi, trở nên tôi mọi của sự công bình rồi”. Rôma 13.14 chép: “nhưng hãy mặc lấy Đức Chúa Jêsus Christ, chớ chăm nom về xác thịt mà làm cho phỉ lòng dục nó”. Rôma 15.3 chép: "Vì Đấng Christ cũng không làm cho đẹp lòng mình…".
Tự do không phải là tấm môn bài. Nó không phải là tự do muốn làm gì thì làm. Nó không phải là một lời cáo lỗi cho xác thịt. Nếu chúng ta nhượng bộ đối với tư dục của mình, chúng ta bị ràng buộc bởi một hình thức nô lệ rất tồi tệ. Chúa Jêsus đã phán trong Giăng 8.34: "Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai phạm tội lỗi là tôi mọi của tội lỗi".
II. Mục đích của sự tự do là phục vụ tha nhân (các câu 13b-15).
Giờ đây, chúng ta biết rõ rằng sự tự do không phải là phục vụ bản thân mình, không được sử dụng "làm dịp cho xác thịt", vậy thì mục đích của sự tự do là gì? Ấy là phục vụ tha nhân. Phaolô nói như thế ở cuối câu 13. Về mặt tiêu cực, chúng ta không nên sử dụng sự tự do của mình để phục vụ cho "xác thịt". Về mặt tích cực, chúng ta phải sử dụng sự tự do của mình để "lấy lòng yêu thương làm đầy tớ lẫn nhau".
Yêu thương tác động vào sự phục vụ
Sự tự do Cơ đốc không phải là sự tự do làm bất cứ điều chi chúng ta muốn làm mà chẳng quan tâm gì đến người khác. Ngược lại, chúng ta cần phải "yêu thương" họ và "làm đầy tớ" họ nữa. Thường thì chúng ta nhìn xem người ta theo các giới hạn những gì họ làm cho chúng ta khi chúng ta nên nhìn xem họ theo những giới hạn những gì chúng ta có thể làm cho họ.
Là một Mục sư, tôi thích nhìn xem người mới bước vào mối tương giao của chúng ta. Không những hội chúng của chúng ta đang tăng trưởng theo độ lớn; nó còn tăng trưởng theo chiều sâu nữa. Mỗi người tín đồ đều góp phần vào sự hình thành Hội thánh nhà đều có một hỗn hợp các ân tứ và nhiều khả năng. Người ấy (dù nam hay nữ) đã sử dụng các ân tứ và khả năng đó để hầu việc Đức Chúa Trời ở đây trong Hội thánh của chúng ta. Học biết tân tín hữu có những khả năng nào đưa vào trong Hội thánh của chúng ta là một điều đem lại nhiều khích lệ. Tuy nhiên, tôi phải rất cẩn thận vì tôi không xem họ theo cách họ có mặt ở đây để phục vụ tôi và các chức vụ của tôi. Ngược lại, tôi đang nhìn bằng những phương thức để chúng ta có thể phục vụ cho họ.
Cụm từ "làm đầy tớ" trong câu nầy ra từ chữ Hy lạp có nghĩa là, "trở thành một nô lệ". Vì cớ "tình yêu thương" chúng ta cần phải hạ mình xuống tới mức phục vụ tha nhân giống như một nô lệ vậy. Tôi không phải là một ông chủ với nhiều nô lệ, mà là một nô lệ thấp hèn với nhiều ông chủ! Đúng là một tư tưởng cấp tiến! Sẽ ra sao nếu mọi người trong hội chúng của chúng ta đều có ý đồ ấy? Sẽ ra sao nếu mỗi một người chúng ta đi vòng quanh tìm kiếm những phương thức để phục vụ người khác? Các nhu cần của mọi người sẽ được làm cho thoả mãn. Mọi người sẽ được phu phỉ. Không sơ sót một người nào. Mọi người đều biết rằng họ đáng được yêu thương.
John Stott đã viết: "Sự tự do Cơ đốc là phục vụ không có tình trạng ích kỷ. Đây là một sự nghịch lý. Vì từ một nhận định, sự tự do Cơ đốc là một hình thái nô lệ -- không phải nô lệ cho xác thịt, mà cho người lân cận của chúng ta. Chúng ta được tự do trong mối quan hệ với Đức Chúa Trời, nhưng là nô lệ trong mối quan hệ với tha nhân".
Trong Luca 22, một sự "tranh cãi" phát sinh giữa vòng các môn đồ về "ai trong số họ sẽ là lớn hơn hết". Dường như cuộc tranh cãi nầy là dại dột, là ấu trĩ cho những lỗ tai của thế kỷ thứ 21 lắm. Tuy nhiên, có phải chúng ta đánh giá mình ngược lại với những người khác? Có phải chúng ta cứ liên tục phân tích theo cách chê bai? Trong các câu 25-27 Chúa Jêsus đáp ứng với tính nhỏ nhen của họ: "Các vua của các dân ngoại lấy phép riêng mình mà cai trị, những người cầm quyền cai trị được xưng là người làm ơn. Về phần các ngươi, đừng làm như vậy; song ai lớn hơn trong các ngươi phải như kẻ rất nhỏ, và ai cai trị phải như kẻ hầu việc. Vì một người ngồi ăn với một người hầu việc, ai là lớn hơn? Có phải là kẻ ngồi ăn không? Nhưng ta ở giữa các ngươi như kẻ hầu việc vậy". Chúa Jêsus là lớn nhất trong mọi người vì Ngài đã tự lập mình làm đầy tớ của mọi người! Ngài phán trong Mác 10.45: "Vì Con người đã đến không phải để người ta hầu việc mình, song để hầu việc người ta, và phó sự sống mình làm giá chuộc cho nhiều người".
Phaolô viết trong Philíp 2.5-7: "Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có, Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người".
Nếu chúng ta yêu nhau, chúng ta sẽ làm đầy tớ cho nhau; nếu chúng ta làm đầy tớ của nhau, chúng ta đang yêu nhau. Chúng ta hãy biến sự nầy ra thực tế đi. Chúng ta thể hiện sự phục vụ do tình yêu thương tác động như thế nào đây? Hãy mở ra ở I Côrinhtô 13, là “chương yêu thương” rất quan trọng trong Kinh Thánh. Chúng ta hãy đọc phần mô tả nầy về sự phục vụ bằng tình yêu thương ở các câu 4-8a: "Tình yêu thương hay nhịn nhục; tình yêu thương hay nhơn từ; tình yêu thương chẳng ghen tị, chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu ngạo, chẳng làm điều trái phép, chẳng kiếm tư lợi, chẳng nóng giận, chẳng nghi ngờ sự dữ, chẳng vui về điều không công bình, nhưng vui trong lẽ thật. Tình yêu thương hay dung thứ mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự. Tình yêu thương chẳng hề hư mất bao giờ".
Thành thực mà nói, câu Kinh Thánh nầy âm vang của nó giống như một thái độ quí vị đang có hướng về anh chị em mình trong gia đình của Đức Chúa Trời. Quí vị đáp ứng ra sao khi một buổi thờ phượng quá hiện đại hay quá cũ kỹ cho vị nếm của quí vị? Có phải tình yêu thương khiến cho quí vị chịu khổ lâu dài, chớ không tìm kiếm lợi ích riêng và gánh vác lấy mọi sự không? Hay, có phải quí vị than phiền lớn tiếng hay ngồi giả vờ khoanh tay trước ngực từ chối không tìm cách thờ lạy Đức Chúa Trời?
Khi quí vị nghe lời đồn đại về một tín hữu khác thì sao nào? Có phải quí vị tin điều tệ hại nhất rồi mau mắn chuyền nó qua cho nhiều người khác hoặc có phải quí vị nghĩ chẳng có gì xấu rồi từ chối vui mừng nơi tội lỗi của người khác? Có phải quí vị đào sâu để tìm các chi tiết hay có phải quí vị bắt đầu cầu nguyện cho người kia?
Khi quí vị nhìn thấy ai đó có thêm ân tứ và tài khéo hơn mình, có phải quí vị ganh tỵ hay có phải quí vị từ chối không muốn dính vào sự ganh tỵ đó? Có phải quí vị thích thầm lặng hay có phải quí vị từ chối không muốn phô trương ra khả năng của mình? Có phải quí vị làm việc hết hơi với những gì quí vị biết hay có phải quí vị là một người học việc rất sẵn lòng?
Có phải quí vị giao du riêng với chỉ một vài người hay có phải quí vị luôn luôn tìm kiếm những mối quan hệ mới, người mới để yêu thương và phục vụ? Có phải quí vị mau mắn tha thứ cho kẻ làm mất lòng hay có phải quí vị đang ngấu nghiến mối ác cảm trong một thời gian dài? Có phải quí vị sốt sắng chia sẻ chức vụ của mình với nhiều người khác hay có phải quí vị nghĩ mình là nhân vật duy nhứt có thể làm bất cứ việc gì không?
Có phải quí vị than phiền và kêu ca trong khi không hề tình nguyện làm bất cứ việc gì hay có phải quí vị bằng lòng dâng chính mình giúp đỡ và giúp lời nói khích lệ cho nhiều người khác không?
Ôi quí vị ơi! Loại tự phân tích cái tôi nầy rắc rối lắm… thế mà rất cần thiết đấy. Hãy cầu nguyện đi, hãy để cho Đức Thánh Linh nắm lấy tấm lòng của quí vị và tỏ ra bất kỳ một sự thiếu thốn tình yêu thương và sự phục vụ nào đó.
Rõ ràng là người Galati chưa làm đầy tớ cho nhau với tình yêu thương. Hãy xem lại câu 15: "Nhưng nếu anh em cắn nuốt nhau, thì hãy giữ, kẻo kẻ nầy bị diệt mất bởi kẻ khác". Đây là một bức tranh diễn đạt bằng lời nói mô tả hai con chó hoang đang đối mặt nhau, chúng chuẩn bị đánh nhau. Tôi đã nhìn thấy một số cuộc ấu đã như chó hay đánh nhau trong các Hội thánh Tin lành!
Gốc rễ của những lần xung trận nầy là gì? Thiên về với luật pháp. Hãy suy nghĩ về sự ấy xem. Hầu hết những cuộc tranh chiến trong nhà thờ đang diễn ra trong các Hội thánh thiên về với luật pháp. Người ta thường tẩy chay nhau trong các Hội thánh thiên về với luật pháp. Quí Mục sư và Ban Trị Sự thường “nổ” vào nhau trong các Hội thánh thiên về với luật pháp. Khi chúng ta chú vào các bảng danh mục những việc phải làm theo và không phải làm theo, thay vì yêu thương chúng ta lại có những nan đề vì ai nấy đều có bảng danh mục khác nhau! Quí vị có bao giờ nhìn thấy một kẻ ăn thịt đồng loại thuộc linh thể hiện cách giải quyết một vấn đề khó khăn với các anh chị em thuộc linh của mình chưa? Đây là một tai vạ rất khủng khiếp. Sự ích kỷ đang nắm lấy quyền hành. Chúa Jêsus không cứu chúng ta vì sự ấy đâu!
Tôi có hai đứa con gái nhỏ ở nhà. Một đứa được 8 tuổi và đứa kia 10 tuổi. Đôi khi chúng làm cho mẹ của chúng và tôi phải bực bội trước tình hình đôi co của chúng. Một đứa mặc loại quần áo Barbie của đứa kia. Đứa nầy lấy cái kẹp tóc của đứa kia. Đứa nầy dám bước vào phòng của đứa kia mà không cần xin phép. Có lần cả mẹ chúng và tôi gần như phải nhuốm bịnh vì mọi chuyện ấy. Chúng tôi phải làm nguội và kết thúc việc la lối lớn tiếng khi chúng đôi co với nhau! Chẳng lẽ quí vị không nghĩ Cha chúng ta ở trên trời phải nhuốm bịnh vì những lần tranh luận, đôi co ích kỷ của chúng ta sao? Nếu Ngài bỏ đi tánh nguội lạnh của Ngài, quí vị sẽ còn thoải mái sao?
Cho nên chẳng có gì phải ngạc nhiên khi Kinh Thánh đề cập tới chúng ta là "con cái của Đức Chúa Trời" vì chúng ta dám hành động như con cái trọn đời mình.
Luật pháp được phu phỉ trong tình yêu thương
Trong câu 14, vị sứ đồ viết: "Vì cả luật pháp chỉ tóm lại trong một lời nầy: Ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình". Suốt cả bức thư Phaolô đã luận chứng nghịch lại sự tiếp cận Đức Chúa Trời bằng cách tuân thủ theo luật pháp. Rất nhiều lần ông đã lặp đi lặp lại rằng chúng ta đến với Đức Chúa Trời bởi ân điển nhờ đức tin. Giờ đây, dường như ông có sự ưu ái đối với luật pháp khi ông nói cho chúng ta biết rằng "cả luật pháp chỉ tóm lại trong một lời nầy".
Trước khi chúng ta đi xa hơn, chúng ta cần phải hiểu rõ một lẽ thật quan trọng. Mối quan hệ của tín đồ với Luật pháp không bị giải thể khi Chúa Jêsus ngự đến; mối quan hệ ấy đã bị thay đổi. Chúa Jêsus đã làm phu phỉ và hoàn tất mọi phương diện về nghi thức của luật pháp nhưng các nguyên tắc đạo đức tổng quát vẫn còn hiệu lực. Ao ước của Đức Chúa Trời dành cho sự nên thánh của chúng ta và các tiêu chuẩn của Ngài về điều chi đúng sai không hề thay đổi.
"Đấng Christ đã buông tha cho chúng ta được tự do" khỏi các luật lệ và nghi thức của Cựu Ước. Chúng ta không còn chạy theo những điều răn nữa, mà chạy theo các nguyên tắc đã được minh hoạ trong Cựu Ước và được áp dụng trực tiếp trong Tân Ước. Giờ đây Phaolô nói cho chúng ta biết rằng "cả luật pháp", tất cả các nguyên tắc đã được "phu phỉ" hay được tóm lại trong "một lời" hoặc một câu nói: "ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình" (một trưng dẫn của Lêvi ký 19.18).
Phaolô rút ra câu nói ấy từ Chúa Jêsus. Trong Bài Giảng Trên Núi ở Mathiơ 7.12 Chúa phán: "Ấy vậy, hễ điều chi mà các ngươi muốn người ta làm cho mình, thì cũng hãy làm điều đó cho họ, vì ấy là luật pháp và lời tiên tri". Nghĩa là, cả Cựu Ước được tóm tắt lại trong nguyên tắc ấy.
Trong một dịp khác, ở Mathiơ 22: "Có một thầy dạy luật trong bọn họ hỏi câu nầy để thử Ngài". Ông ta đưa ra một câu hỏi thường bị tranh cãi giữa vòng các nhà thần học Do thái: "Trong luật pháp, điều răn nào là lớn hơn hết?" Chúa Jêsus đáp lại trong các câu 37-40: "Ngươi hãy hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi. Ấy là điều răn thứ nhứt và lớn hơn hết. Còn điều răn thứ hai đây, cũng như vậy: Ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình. Hết thảy luật pháp và lời tiên tri đều bởi hai điều răn đó mà ra". Đức Chúa Trời luôn luôn kêu gọi dân sự Ngài biết kính sợ Ngài và yêu thương làm đầy tớ cho nhau.
Khi chúng ta trở lại với Rôma 13.8-10 chúng ta thấy Phaolô trau chuốt sự dạy của Chúa Jêsus: "Đừng mắc nợ ai chi hết, chỉ mắc nợ về sự yêu thương nhau mà thôi, vì ai yêu kẻ lân cận mình, ấy là đã làm trọn luật pháp. Vả, những điều răn nầy: Ngươi chớ phạm tội tà dâm, chớ giết người, chớ trộm cướp, chớ tham lam, mà mọi điều răn khác nữa, bất luận điều nào, đều tóm lại trong một lời nầy: Ngươi phải yêu kẻ lân cận mình như mình. Sự yêu thương chẳng hề làm hại kẻ lân cận; vậy yêu thương là sự làm trọn luật pháp".
Nếu chúng ta dành thì giờ đi từng câu một qua sách Lêvi ký, chúng ta sẽ thấy hàng tá mạng lịnh dạy phải đối xử với kẻ lân cận theo cung cách yêu thương. Giờ đây thay vì ban cho chúng ta những điều răn rất chi tiết, Đức Chúa Trời ban cho chúng ta một nguyên tắc đơn giãn phủ lấy các điều răn. Ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình.
Cho phép tôi cung ứng cho quí vị một một trường hợp về điều tôi muốn nói tới. Chúng ta hãy xem xét đề tài về việc uống rượu. Kinh Thánh đã nói nhiều về việc uống rượu. Thí dụ, Êphêsô 5.18 chép: "Đừng say rượu, vì rượu xui cho luông tuồng; nhưng phải đầy dẫy Đức Thánh Linh". Châm ngôn 20.1 chép: "Rượu khiến người ta nhạo báng, đồ uống say làm cho hỗn láo; Phàm ai dùng nó quá độ, chẳng phải là khôn ngoan". Mặc dù có nhiều lời răn chống lại việc say sưa, không một chỗ nào Kinh Thánh tuyệt đối cấm không cho chúng ta uống. Chúng ta có một số tự do trong lãnh vực nầy. Vẫn có nhiều lý do tại sao chúng ta chọn không uống rượu. Tôi không muốn nhơn cơ hội để đi uống rượu hay thậm chí trở thành tay nát rượu. Chủ yếu tôi không uống vì cớ tình yêu thương dành cho người khác. Quí vị cảm thấy như thế nào nếu quí vị thấy tôi ở một trận đấu bóng đá với một ly bia trên tay? Điều đó tác động vào quí vị như thế nào? Con cái quí vị nghĩ sao nếu chúng thấy tôi nhắp rượu ở một nhà hàng Mễ Tây Cơ mà tôi ưa thích? Còn riêng tư hơn nữa, con cái của tôi sẽ nghĩ như thế nào? Chúng sẽ còn muốn noi theo gương của tôi không? Quí vị đoán xem. Tôi chẳng uống gì cả, không phải vì cớ một mạng lịnh, mà vì cớ một nguyên tắc. Tình yêu thương đang kềm chế tôi.
Câu nầy đưa chúng ta vào một chu kỳ trọn vẹn trong sách Galati. Trước tiên, chúng ta thử tìm cách đạt được sự tán thưởng của Đức Chúa Trời bằng cách tuân giữ luật pháp của Ngài hay sống nhơn đức xem. Tuy nhiên, chúng ta thấy khó mà giữ được luật pháp. Kế đó, chúng ta nghe giảng tin lành nói tới ân điển của Đức Chúa Trời và đã tin theo Đấng Christ. Chúng ta được Đức Chúa Trời tán thưởng bởi đức tin, chớ không phải bởi tuân giữ luật pháp. Trong Đấng Christ chúng ta đã được buông tha ra khỏi việc tuân thủ theo luật pháp. Tuy nhiên, mục đích của Chúa Jêsus trong sự tự do của chúng ta không phải ở chỗ chúng ta nên yêu thương nhau và minh chứng tình yêu ấy bằng cách phục vụ cho nhau. Cái điều nghịch lý, ấy là khi chúng ta thực sự yêu thương như yêu bản thân mình, chúng ta thôi không còn làm cho tấm lòng và linh hồn mình đầy luật pháp mà Đấng Christ đã buông tha cho chúng ta ra khỏi đó.
Khi nói tới sự tự do thuộc linh, Stott viết: "Tự do không phải là chiều theo xác thịt, mà là điều khiển xác thịt; tự do không phải là lợi dụng kẻ lân cận, mà là phục vụ cho người lân cận; tự do không phải là bất chấp luật pháp, mà là làm phu phỉ luật pháp. Người nào thực sự đã được Đức Chúa Jêsus Christ buông tha cho được tự do đang bày tỏ ra sự tự do theo các phương thức nầy, trước tiên là tiết độ, kế đó là phục vụ người lân cận với lòng yêu thương, và thứ ba là vâng phục luật pháp của Đức Chúa Trời mình".
Ngay sau khi Đức Chúa Trời ban cho Môise Mười Điều Răn trong Xuất Êdíptô ký 20, Ngài đã ban ra một mạng lịnh ở chương 21 rằng hầu việc là một minh họa rất hay cho những gì Phaolô đã dạy dỗ trong thư Galati. Cho phép tôi đọc 2-6: "Nếu ngươi mua một người đầy tớ Hê-bơ-rơ, nó sẽ hầu việc cho sáu năm; nhưng qua năm thứ bảy nó sẽ được thả ra, không phải thối tiền. Nếu nó vào ở một mình, thì sẽ ra một mình; nếu có vợ, thì sẽ ra với vợ. Nếu người chủ cưới vợ cho, và nếu vợ sanh được con trai hay gái, thì nó sẽ ra một mình, vợ và con thuộc về chủ. Nếu kẻ tôi mọi nói rằng: Tôi thương chủ, vợ và con tôi, không muốn ra được tự do, thì người chủ sẽ dẫn nó đến trước mặt Đức Chúa Trời, biểu lại gần cửa hay là cột, rồi lấy mũi dùi xỏ tai; nó sẽ hầu việc người chủ đó trọn đời".
Ngày nay người ta dùng nhiều kiểu cách đâm dùi các chi thể khác nhau trong thân thể họ. Trong những ngày xa xưa ấy, một người có lỗ tai bị dùi giống như một dấu hiệu của tình yêu thương, tình yêu dành cho chủ của mình. Đó là những gì Đức Chúa Trời đang yêu cầu chúng ta phải làm theo. Ngay khi Ngài buông tha cho chúng ta được tự do, Ngài yêu cầu chúng ta phải từ bỏ sự tự do phục vụ bản ngã mình để bằng lòng hầu việc Ngài. Rôma 6.22 chép: "Nhưng bây giờ đã được buông tha khỏi tội lỗi” chúng ta “trở nên tôi mọi của Đức Chúa Trời".
Có thể ngày nay quí vị sẽ cầu nguyện giống như tôi đã cầu nguyện sau khi nghiên cứu phân đoạn Kinh Thánh nầy. Có thể quí vị sẽ cầu nguyện đại loại như sau: "Lạy Chúa, Ngài đã buông tha cho con được tự do, nhưng con đã phung phí sự tự do đó do phục vụ những khao khát ích kỷ của riêng mình. Ngày nay con nhìn biết từ Lời của Ngài rằng mục đích Ngài buông tha cho con được tự do, ấy là con phải hầu việc Ngài và tha nhân bằng tình yêu thương. Lời của Ngài và Thánh Linh của Ngài đã dùi vào tấm lòng của con, ôi lạy Chúa. Giống như gã nô lệ người Hêbơrơ xưa kia đã đưa tai của mình để chịu dùi là một dấu hiệu của tình yêu thương và lòng trung thành, lạy Chúa, con xin dâng lòng con cho Ngài. Ôi lạy Chúa, xin dùi đi. Xin giúp con biết chu toàn mục đích của sự tự do của con".

Thứ Hai, 16 tháng 5, 2011

Galati 5.2-12: "Giữ lấy sự tự do"

Tự do thực – Galati
Giữ lấy sự tự do
Galati 5.2-12
Phaolô giới thiệu phần cuối của sách Galati với một câu nói cao giọng dần ở câu 1. Ông nói. "Đấng Christ đã buông tha chúng ta cho được tự do; vậy hãy đứng vững, chớ lại để mình dưới ách tôi mọi nữa". Đây là tuyệt điểm, là đỉnh cao của bức thư.
Phần nghiên cứu từng câu một sách Galati đã bị khựng lại cách đây mấy tuần do mùa lễ Giáng sinh và tất nhiên là sự ra đi của mẹ tôi. Tôi rất phấn khởi khi quay trở lại với phần nghiên cứu nầy vì chúng ta cần phải bước vào phần mà tôi ưa thích nhất trong cả sách, ấy là sống đời sống đầy dẫy Đức Thánh Linh! Chúng ta đã nghiên cứu câu 1 thật là chi tiết rồi. Thực vậy, tôi đã giảng dạy câu ấy bằng cả một bài giảng. Để hiểu rõ các câu 2-12, chúng ta cần phải làm cho phần hiểu biết của chúng ta ở câu 1 ra tươi mới hơn, vì vậy, hãy cùng tôi ôn lại cách vắn tắt. Sự dạy dỗ và hiểu biết Kinh Thánh cách đúng đắn không phải là điều chúng ta có thể có được khi thiếu mất sự tập trung, vì thế hãy đào bới trong đầu óc của quí vị và chúng ta hãy xâm nhập vào đấy!
Câu 1 nói cho chúng ta biết bởi đức tin trong Đấng Christ, chúng ta đã ĐƯỢC BUÔNG THA. Các câu 2-12 và phần còn lại của quyển sách cho chúng ta biết làm thế nào để GIỮ LẤY SỰ TỰ DO. Câu 1 thực ra có thể phân thành hai câu. Thứ nhứt, câu nầy chép. "Đấng Christ đã buông tha chúng ta cho được tự do". Như vậy, câu ấy cần phải được gạch dưới trong quyển Kinh Thánh và được chạm khắc trên bảng lòng của chúng ta! Khi quí vị được cứu, Chúa Jêsus buông tha quí vị cho được tự do. Ngài giải phóng quí vị ra khỏi quyền lực của tội lỗi, án phạt của tội lỗi, tình trạng làm tôi mọi cho luật pháp, ra khỏi tội lỗi, tránh khỏi bẫy rập, những sự trông mong nơi người khác và quyền khống chế của Satan. Chúa Jêsus đã phán rõ ràng trong Giăng 8.36: "Vậy nếu Con buông tha các ngươi, các ngươi sẽ thật được tự do".
Phần thứ hai ở câu 1 chép: "vậy hãy đứng vững, chớ lại để mình dưới ách tôi mọi nữa". Nói cách khác, vì "Đấng Christ đã buông tha chúng ta cho được tự do" giờ đây chúng ta phải sống giống như những người nam người nữ tự do! Chúng ta không nên quay trở lại với cách sống tôi mọi ở dưới những luật lệ, nghi thức, điều lệ và tôn giáo. Chúng ta cần phải sống cao hơn lối sống xu hướng về luật pháp.
Quí vị có thể nhớ lại rằng chúng ta đã minh họa mạng lịnh ấy theo cách nầy. Đức Chúa Trời đã vẽ một vòng tròn quanh chúng ta rồi nói: "Các ngươi đã được tự do. Các ngươi có thể làm bất cứ việc gì hay trở thành hạng người thể nào bao lâu các ngươi ở trong vòng tròn nầy". Tất nhiên vòng tròn đó chính là Lời của Đức Chúa Trời, là Kinh Thánh.
Vì vậy có nhiều người muốn tra các đường ranh giới của họ trên chúng ta. Họ muốn bảo chúng ta phải sinh sống như thế nào, ăn mặc ra sao, tóc tai thể nào, nên đi đâu và phải làm gì. Họ muốn tác động trên chúng ta với tội lỗi và sự phán xét. Vấn đề là, đây là những đường ranh giới của họ chớ không phải của Đức Chúa Trời. Vòng tròn của họ thì nhỏ hơn vòng tròn của Đức Chúa Trời nhiều lắm. Nếu quí vị không nghiên cứu Kinh Thánh, quí vị sẽ để cho người khác định hạn sự tự do của quí vị đấy!
Nếu quí vị thực được cứu bởi ân điển của Đức Chúa Trời, quí vị đã được buông tha rồi! "Hãy đứng vững" trong sự tự do của quí vị! Đừng để người nào hớt mất sự tự do đó. Đừng quay trở lại với vòng "tôi mọi" hay tôn giáo xu hướng về với luật pháp. Trong 11 câu kế tiếp, Phaolô cung ứng cho chúng ta hai tiêu chuẩn để giữ lấy sự tự do. Hãy tránh né sự dạy giả dối và hãy trục xuất các giáo sư giả.
I. Muốn giữ lấy sự tự do, chúng ta phải tránh né sự dạy giả dối (các câu 2-6).
Khi quí vị đọc phân đoạn Kinh Thánh gốc, quí vị thấy những cụm từ "chịu làm phép cắt bì" hay "phép cắt bì" trong bốn câu (2, 3, 6, 11). Rõ ràng, "phép cắt bì" là phần quan trọng cho sự hiểu biết tiểu đoạn nầy. "Phép cắt bì", là việc cắt bỏ bao quy đầu của người nam, là biểu tượng chính của Do thái giáo. Đức Chúa Trời đã truyền cho Ápraham và hết thảy dòng dõi của ông đều phải chịu "phép cắt bì". Việc cắt bỏ bao quy đầu là một biểu tượng và là một sự nhắc nhớ rằng Đức Chúa Trời muốn cắt bỏ tội lỗi ra khỏi tấm lòng của họ bởi đức tin.
Vấn đề là, thay vì là một biểu tượng và là một sự nhắc nhớ tới ân sũng và ơn phước của Đức Chúa Trời giáng trên người Do thái là một dân tộc, đối với họ "phép cắt bì" trở thành một phương thức khiến cho họ được hoà thuận lại với Đức Chúa Trời. Họ bắt đầu tin cậy nơi biểu tượng thay vì tin cậy nơi Đức Chúa Trời.
Hiểu rõ Phaolô không bài bác bản thân phép cắt bì là một việc rất quan trọng. Ông đã chịu phép cắt bì. Timôthê đã chịu phép cắt bì như một người Do thái để mở ra thêm nhiều cánh cửa cho Tin lành. Vấn đề là, họ đã tin cậy vào phép cắt bì để được cứu thay vì tin cậy nơi Chúa Jêsus.
Các giáo sư giả ở xứ Galati được gọi là những kẻ theo giáo Giu-đa đã nói: "Quả là quan trọng khi tin theo Chúa Jêsus, nhưng như thế chưa đủ để được cứu đâu. Bạn cũng phải chịu phép cắt bì và tuân giữ luật pháp Môise nữa". Mục đích của Phaolô, ấy là quí vị không thể tin theo cả hai mặt như thế. Một là quí vị tin vào phép cắt bì hay là quí vị tin cậy nơi Đấng Christ!?!
Phép cắt bì không phải là một vấn đề tranh cãi chủ yếu giữa vòng Cơ đốc nhân ngày nay. Tuy nhiên, con người đang tiếp tục tin tưởng nơi các biểu tượng hơn là tin theo Chúa Jêsus. Có người tin rằng vì họ đã chịu phép báptêm, đương nhiên họ được cứu. Phép báptêm là một biểu tượng tuyệt vời trong Kinh Thánh, song phép ấy chẳng cứu được ai. Nhiều người khác tin rằng vì họ thông công với nhau đều đặn, thuộc về một giáo hội hay hệ phái đặc biệt nào đó, hoặc tuyên xưng tội lỗi với một linh mục, thế thì họ sẽ được cứu. Tiêu điểm của Tân Ước rất là rõ ràng, CHỈ CÓ CHÚA JÊSUS MỚI CÓ QUYỀN CỨU MÀ THÔI!
Trong các câu 2-6, Phaolô chỉ ra bốn hậu quả của việc tin theo một biểu tượng thay vì tin theo Cứu Chúa.
A. Sự dạy giả dối phân rẻ dân sự ra khỏi Đấng Christ (câu 2).
Hãy lưu ý Phaolô sử dụng một lời khuyên theo cách cá nhân. Ông nói: "Tôi là Phaolô nói với anh em…". Ở đây, ông đang nương vào thẩm quyền sứ đồ của ông. Là một sứ đồ, một khâm sai trực tiếp của Đức Chúa Jêsus Christ, ông nói: "Nếu anh em chịu phép cắt bì, thì Đấng Christ không bổ ích chi cho anh em hết". Ông là người Do thái. Ông đã chịu "phép cắt bì". Tại sao ông nói ra điều nầy?
Phaolô có ý nói rằng nếu có ai nhận lãnh "phép cắt bì" với lòng tin rằng "phép cắt bì" sẽ cứu lấy người ấy hay thêm vào sự cứu rỗi của người ấy, người ấy đã chối bỏ Chúa Jêsus. Đấng Christ sẽ chẳng “bổ ích” chi hay có lợi lộc gì cho người ấy hết. Chúa Jêsus cung hiến sự cứu rỗi trọn vẹn và đời đời cho hết thảy những ai chịu tin nơi Ngài. Tuy nhiên, sự cứu rỗi đời đời đó không có hiệu lực gì cho những ai tin cậy vào bất cứ cái gì khác, bất kỳ biểu tượng hay bất kể hành động nào khác của con người.
Thí dụ, có người tìm cách thêm phép báptêm vào việc tin cậy Đấng Christ. Họ nói: "Phải, quí vị phải tin cậy Đấng Christ, nhưng kế đó quí vị phải bị nhúng xuống nước thì mới chắc chắn được cứu". Vấn đề với sự dạy, ấy là người ta tin vào sự kiện họ đã chịu phép báptêm thay vì tin cậy nơi thân vị của Chúa Jêsus! Sự việc hiển nhiên, ấy là phép báptêm, giống như phép cắt bì đã khiến cho Đấng Christ “chẳng bổ ích cho họ hết”.
Hãy nhớ rằng thư tín nầy đã được viết cho "các Hội thánh ở xứ Galati" (1.2). Hầu hết những người mà Phaolô viết cho họ đều là các tín đồ chân chính, nhưng giống như hầu hết các Hội thánh ngày nay, đã có một số người thực sự chưa được biến đổi. Đối với những kẻ chưa được cứu, Phaolô nói rằng họ sẽ chẳng nhận được "bổ ích" hay lợi ích gì từ Đấng Christ nếu họ tin cậy vào "phép cắt bì". Đối với những ai là tín đồ đích thực, Phaolô nói rằng sẽ chẳng có "bổ ích" hay lợi ích gì, không có một sự tấn tới thuộc linh nào trong Chúa nếu họ bắt đầu tin cậy vào "phép cắt bì", khi thêm phép nầy vào với Đấng Christ.
Tôi đã tin cậy một mình Đấng Christ để được cứu khi tôi mới có 14 tuổi. Tôi đã đi nhà thờ suốt đời sống tôi, nhưng tin nơi nhà thờ không cứu được tôi đâu. Khi 7 tuổi, tôi đã chịu phép báptêm, nhưng phép báptêm không cứu được tôi. Tôi là thuộc viên của một nhà thờ địa phương, nhưng địa vị thuộc viên không cứu được tôi. Tôi là một thiếu nhi ngoan ngoản, nhưng ngoan ngoản không cứu được tôi. Lúc tôi được 14 tuổi, Thánh Linh của Đức Chúa Trời dẫn dắt tôi khiến cho tôi hiểu được rằng mình chỉ tin cậy nơi một mình Đấng Christ mà thôi. Tôi phải đạt tới chỗ nhận ra mình chẳng thể làm gì được, không một nổ lực nào của con người có thể cứu được tôi. Tôi nhìn nhận rằng mình vô dụng, mình không thể tự cứu lấy mình được và chỉ có Chúa Jêsus mới có quyền cứu mà thôi.
Tin cậy vào bất cứ thứ chi khác trong chỗ của Đấng Christ hoặc thêm vào với Đấng Christ thì không phải là tin cậy nơi Đấng Christ đâu. Tôi thích cách trình bày của John MacArthur: "Một Đấng Christ phụ thuộc là một Đấng Christ bị chiếm chỗ".
B. Sự dạy giả dối buộc người ta phải tuân giữ trọn luật pháp (câu 3).
Phaolô nói: "Tôi lại rao [khẳng định cách cấp bách] cho mọi người chịu cắt bì rằng, họ buộc phải vâng giữ trọn cả luật pháp". Nói cách khác, nếu quí vị thêm "phép cắt bì" vào sự cứu rỗi, quí vị hiện bị buộc phải vâng giữ trọn luật pháp.
Giacơ 2.10 chép: "Vì người nào giữ trọn luật pháp, mà phạm một điều răn, thì cũng đáng tội như đã phạm hết thảy". Đức Chúa Trời không chiếu theo chỗ cong quẹo. Nếu quí vị muốn tiếp cận Ngài bằng sự nhơn đức của riêng mình, quí vị phải nên trọn vẹn, trọn lành cách hoàn toàn. Quí vị thậm chí không được có một tội lỗi nào cả. Mặc dù quí vị có thể sống cách trọn vẹn suốt cả cuộc đời của mình và có một phút thất bại ngay giây phút cuối cùng của cuộc đời mình, quí vị sẽ bị hư mất!
C. Sự dạy giả dối khiến cho người ta phải lìa khỏi Đấng Christ, mất ân điển (câu 4).
Kế đó vị Sứ đồ nói: "Anh em thảy đều muốn cậy luật pháp cho được xưng công bình, thì đã lìa khỏi Đấng Christ, mất ân điển rồi". Câu nầy là nguồn của sự hiểu lầm và tường trình sai trái qua nhiều thế kỷ. Nhiều người đã dùng câu nầy để ra sức dạy rằng người nào đã được cứu, người ấy có khả năng mất đi ơn cứu rỗi của mình. Đấy không phải là tất cả mọi trường hợp đâu. Thực vậy, trong nội dung chúng ta thấy rằng Phaolô không xử lý với sự an ninh đời đời mà xử lý với sự pha trộn giữa luật pháp và ân điển.
"Lìa" có nghĩa là "phân cách hay rời ra". Nếu một người bị phân cách ra khỏi vợ của mình, nàng bị coi là “người vợ bị ly thân” đối với chồng. Phaolô đang viết thư cho một số người, họ đã bị phân cách hay "đã lìa khỏi Đấng Christ". Họ là ai? Phaolô nói cho chúng ta biết. Họ là những kẻ "muốn cậy luật pháp cho được xưng công bình".
Mục tiêu: ấy là quí vị có thể tiếp cận Đức Chúa Trời chỉ từ một trong hai con đường. Quí vị không thể sử dụng cả hai được. Quí vị phải chọn lấy một mà thôi. Quí vị không thể tra một chân trên đường nầy rồi tra chân kia trên con đường kia. Quí vị phải lựa chọn thôi. Quí vị sẽ chọn tiếp cận Đức Chúa Trời qua ngả "luật pháp" hay qua "ân điển"? Hai con đường nầy tuyệt đối không sánh bước cùng nhau được mà chúng riêng rẽ với nhau. Chọn lấy con đường nầy là chối bỏ con đường kia.
Trong xứ Galati đã có một số người đang nổ lực "cậy luật pháp cho được xưng công bình". Họ đang ra sức kiếm cho kỳ được ơn cứu rỗi bằng cách chịu "phép cắt bì" và vâng giữ luật pháp. Tôi nghĩ câu nầy đặc biệt bị các giáo sư giả lèo lái, họ là những giáo sư theo giáo Giu-đa. Phaolô đang nói nếu quí vị đi theo con đường đó, quí vị bị phân cách ra khỏi con đường Jêsus, quí vị đã "lìa khỏi Đấng Christ". Nếu quí vị đi theo con đường luật pháp, quí vị đã "mất ân điển rồi".
Trong thời kỳ Hội thánh đầu tiên, đã có nhiều người vứt bỏ lẽ thật của tin lành. Họ đã nhìn thấy nhiều dấu kỳ phép lạ do các sứ đồ làm ra. Họ bị cuốn hút với sứ điệp của Chúa Jêsus. Dầu vậy, có nhiều người khi ấy, giống như nhiều người hôm nay, đã xây lưng họ về phía Tin lành. Họ đã xuôi theo với tôn giáo do con người lập ra. Hạng người thể ấy là những kẻ bội đạo. Hêbơrơ 6.4-6 chép: "Vì chưng những kẻ đã được soi sáng một lần, đã nếm sự ban cho từ trên trời, dự phần về Đức Chúa Trời, nếm đạo lành Đức Chúa Trời, và quyền phép của đời sau, nếu lại vấp ngã, thì không thể khiến họ lại ăn năn nữa, vì họ đóng đinh Con Đức Chúa Trời trên thập tự giá cho mình một lần nữa, làm cho Ngài sỉ nhục tỏ tường". Một người từng ở trên con đường ân điển nhưng lại chối bỏ nó mà sa ngã, trở lại với tôn giáo do con người lập ra, làm sao họ được cứu cho được?
Nói như vầy không có nghĩa là một người thực được cứu hay được xưng công bình và rồi mất đi ơn cứu rỗi của người ấy. Kinh Thánh không hề nói tới việc "không xưng công bình". Ngược lại, Rôma 8.30 chép: "còn những kẻ Ngài đã định sẵn, thì Ngài cũng đã gọi, những kẻ Ngài đã gọi, thì Ngài cũng đã xưng là công bình, và những kẻ Ngài đã xưng là công bình, thì Ngài cũng đã làm cho vinh hiển".
Đôi khi các tín đồ chân chính bị kéo vào xu hướng thiên về với luật pháp. Khi họ làm cho nhiều người khác rút vào vòng tròn tự do của Đức Chúa Trời vì cớ mạng sống của họ. Họ đi từ chỗ bước đi trong ân điển tới chỗ bị xiềng xích vào luật pháp, đổi cách sống bởi đức tin để lấy cách sống bởi việc làm, đổi cách sống theo Thánh Linh để lấy cách sống theo xác thịt. Chúng ta đã ĐƯỢC BUÔNG THA CHO ĐƯỢC TỰ DO và chúng ta cần phải GIỮ LẤY SỰ TỰ DO đó bằng cách chối bỏ sự dạy và các giáo sư giả dối.
D. Sự dạy giả dối chối bỏ hạng người có đức tin (các câu 5-6).
Hãy lưu ý cách Phaolô đã nâng đại từ nhân xưng từ "anh em" sang "chúng ta". Ông nói trong câu 4 về "anh em thảy đều muốn cậy luật pháp cho được xưng công bình". Trong câu 5, ông nói về phần "chúng ta" là những người "bởi đức tin và nhờ Đức Thánh Linh mà chúng ta được nhận lãnh sự trông cậy của sự công bình". Phần nhấn mạnh trong các câu 5-6 là đức tin, chớ không phải việc làm. Chúng ta hãy để ý hai câu nói về đức tin cung ứng cho chúng ta sự trông cậy.
Thứ nhứt, chúng ta bởi đức tin mà trông đợi. Phaolô nói chính là "bởi đức tin" mà chúng ta "nhờ Đức Thánh Linh mà chúng ta được nhận lãnh sự trông cậy của sự công bình". Mặc dù chúng ta có sự công bình của Đấng Christ gắn trên đời sống chúng ta ngay lúc bây giờ, chúng ta đang trông đợi sự công bình trọn vẹn, sự nên thánh hoàn toàn và sự vinh hiển sau cùng. Chúng ta không phấn đấu để đạt được điều đó; chúng ta trông đợi nó. Chúng ta không làm việc để được nó; chúng ta trông đợi nó. Chúng ta không tìm kiếm nó; chúng ta trông đợi nó. Đó là sự "trông cậy" mà chúng ta đang trông đợi. Trong câu nầy chúng ta học biết rằng chúng ta cần phải sống trong quyền phép của "Đức Thánh Linh" chớ không phải theo xác thịt, trong "sự trông cậy" chớ không phải trong sự bất an, và trong "đức tin" chớ không phải nơi việc làm!
Thứ hai, đức tin đúng là vấn đề nổi cộm hơn hết. Hãy nhìn vào câu 6, vị sứ đồ khẳng định: "Vì trong Đức Chúa Jêsus Christ, cái điều có giá trị, không phải tại chịu phép cắt bì hoặc không chịu phép cắt bì, nhưng tại đức tin hay làm ra bởi sự yêu thương vậy". Khi quí vị ở "trong Đức Chúa Jêsus Christ" thì chẳng còn cần một điều chi khác nữa. Chịu cắt bì hay không chịu cắt bì cũng chẳng thêm hay bớt được chi nơi quí vị, địa vị thuộc viên trong Hội thánh hay bất cứ địa vị nào khác cũng sẽ chẳng thêm hay bớt được chi nơi chỗ đứng của quí vị trong Đấng Christ. Mọi vấn đề, ấy là đức tin!
Đời sống Cơ đốc là một đời sống đức tin và đức tin ấy tạo ra việc làm của tình yêu thương. Phaolô nói ở cuối câu 6 chính "đức tin làm ra bởi sự yêu thương vậy". Sản phẩm của đức tin chúng ta, bởi quyền phép của Thánh Linh ngự bên trong chính là tình yêu thương. Cách "ăn ở" của chúng ta đối với Đức Chúa Trời là sản phẩm của đức tin chúng ta, là kết quả của tình yêu chúng ta. Chúng ta không làm việc để được xưng công bình, chúng ta làm việc vì cớ sự công bình mà Đấng Christ đã đặt rồi trong đời sống chúng ta.
II. Muốn giữ lấy sự tự do, chúng ta phải trục xuất hạng giáo sư giả (các câu 7-12).
Khi chúng ta bước sang các câu 7-12, vị sứ đồ tô đậm phần nhấn mạnh từ mối nguy hiểm của sự dạy và các giáo sư giả. Điều nầy nhắc cho tôi nhớ tới câu chuyện kể về một người kia có con chim hoàng yến rất đẹp, giọng hót của nó rất là hay. Trong suốt mùa hè, giữ con chim ở trong nhà suốt ngày dường như là một việc không hay cho lắm. Vì vậy, người chủ đã đặt chiếc lồng chim ở một cây gần đó để cho con chim thưởng thức ánh nắng mặt trời và bầu không khí rộng mở. Nhiều con chim sẻ thường đậu trên cây và bị lôi cuốn đến với chiếc lồng đó. Lúc đầu, chim hoàng yến rất đỗi sợ hãi, nhưng không lâu sau đó đã thưởng thức tình bạn của mình. Nhưng dần dần và hầu như không lường trước nó mất đi giọng hót hay thường ngày. Đến cuối mùa hè giọng hót của nó còn ít hơn tiếng tíu tít của bầy chim se sẻ kia. Sau khi qua mùa hè trong một môi trường không đúng khiến cho con chim hoàng yến mất đi bài ca hay nhất của nó. Cũng một thể ấy, các giáo sư giả dẫn chúng ta lạc sai đối với bài hát tự do mà chúng ta đang có trong Đấng Christ. Chúng ta hãy xét qua 5 đặc điểm của các giáo sư giả.
A. Các giáo sư giả che giấu sự thật (câu 7).
Phaolô nói: "Anh em chạy giỏi; ai đã ngăn trở anh em đặng không cho vâng phục lẽ thật?" Khi Phaolô nói: "Anh em chạy giỏi", ông đang so sánh đời sống Cơ đốc với cuộc chạy marathon, một hình bóng ông thường sử dụng xuyên suốt cả Tân Ước. Khi chúng ta được cứu, chúng ta bắt đầu cuộc chạy và chúng ta cứ giữ việc chạy cho tới chừng nào chúng ta gặp Chúa Jêsus mặt đối mặt. Gần cuối đời mình, vị sứ đồ đã viết: "Ta đã đánh trận tốt lành, đã xong sự chạy, đã giữ được đức tin" (II Timôthê 4.7).
Mới đây tôi có đọc về giải vô địch NCAA chạy băng ngang qua xứ tổ chức tại Riverside, California. Trong 128 vận động viên, 123 người trong số họ đã bỏ qua một ngả rẽ và không xứng đáng nhận huy chương. Một vận động viên là Mike Delcavo, đã giữ cuộc chạy 10.000 m rồi bắt đầu vẫy gọi các bạn đồng đội của mình hãy chạy theo. Delcavo có khả năng thuyết phục chỉ có bốn vận động viên khác chạy theo sau mình. Khi được phỏng vấn các vận động viên đã nghĩ gì về quyết định không chạy theo đám đông ở giữa cuộc, Delcavo đáp như sau: "Họ nghĩ là tôi đã chạy đúng tuyến đường".
Các tín đồ thành Galati đã có phần khởi sự tốt trên cuộc chạy của đức tin. Phaolô nói họ: "chạy giỏi" vào lúc ban đầu. Họ đã biết "vâng theo lẽ thật". Muốn chạy cuộc đua cho giỏi không những phải tin theo lẽ thật hay có cách ăn ở đạo đức đúng đắn. Muốn chạy cuộc đua cho giỏi thì phải "vâng theo lẽ thật", phải áp dụng những điều chúng ta tin theo vào cách ăn ở của chúng ta, phải thể hiện đức tin của mình ra. John Stott viết: "Chỉ có người nào vâng theo lẽ thật mới là một Cơ đốc nhân xác thực. Những gì người tin theo và cách cư xử của người là mọi sự của một bức tranh. Tín điều của người được tỏ ra qua cách ăn ở; cách ăn ở của người được rút ra từ tín điều của người".
Mặc dù họ đã "chạy giỏi" vào lúc ban đầu và biết "vâng theo lẽ thật", có ai đó đã "ngăn trở" họ. "Ngăn trở" sát nghĩa là "đánh ngược lại". Phaolô thắc mắc không biết người đó là ai, ai đã trở thành mối ngăn trở, ai là vầng đá vấp chơn trên đường chạy của họ. Tất nhiên, cả Phaolô và độc giả của ông đều biết rõ chính những kẻ theo giáo Giu-đa chuyên dạy giả dối, họ đã làm cho mâu thuẫn sự dạy của quí sứ đồ.
Ngày nay không còn có những kẻ theo giáo Giu-đa nữa, nhưng sự dạy giả dối vẫn còn quanh đây. Chỉ vì ai đó đang mang theo Kinh Thánh không có nghĩa là họ đang nói ra lẽ thật. Chỉ vì một giáo sư đang có mặt trên TV hay trên đài phát thanh không có nghĩa là người ấy có một sứ điệp đúng đắn đâu. Chỉ vì một người đang nắm lấy chức vụ, một nhà thờ hay một lớp học Kinh Thánh không chắc chắn người ấy đang công bố ra tin lành thanh sạch đâu. ĐÂY LÀ LÝ DO TẠI SAO QUÍ VỊ CẦN PHẢI THƯỜNG XUYÊN VỚI LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI… ĐỂ SỰ TỰ DO CỦA QUÍ VỊ THAM DỰ CUỘC CHẠY KHÔNG BỊ MỘT GIỚI HẠN HAY NGĂN TRỞ NÀO!
II Phierơ 2.1 chép: "Dầu vậy, trong dân chúng cũng đã có tiên tri giả, và cũng sẽ có giáo sư giả trong anh em; họ sẽ truyền những đạo dối làm hại, chối Chúa đã chuộc mình, tự mình chuốc lấy sự hủy phá thình lình".
B. Các giáo sư giả không đến từ Đức Chúa Trời (câu 8).
Phaolô nói cho chúng ta biết "Sự xui giục đó không phải đến từ Đấng gọi anh em". 1.6 chép Đức Chúa Trời "gọi anh em bởi ơn Đức Chúa Jêsus Christ" thế mà họ lại xây qua một "tín ngưỡng" khác, một "tin lành khác" về nghi thức và tuân giữ luật lệ thay vì ân điển.
Hỡi Hội thánh, phải cẩn thận đấy. Có nhiều giọng khác nhau đang hò hét kêu gọi sự chú ý của quí vị. Có nhiều con sói giữa vòng bầy chiên của Đức Chúa Trời. Chúa Jêsus phán: "Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thi đều được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha ta ở trên trời mà thôi" (Mathiơ 7.21).
C. Các giáo sư giả khiến nhiều người khác phải sai lạc (câu 9).
Phaolô trưng dẫn một câu châm ngôn của người Do thái ở đây: "Một ít men làm dậy cả đống bột". Một ít men ngấm vào cả khối bột. "Men" trong Kinh Thánh là biểu tượng cho tội lỗi và sai lầm. Phaolô sử dụng đúng câu Châm ngôn nầy ở I Côrinhtô 5.6 để chỉ ra thể nào tội lỗi có thể hủy phá mối tương giao của một gia đình tin kính. Ở đây trong thơ Galati "men" tiêu biểu cho cách một ít sự dạy giả dối có thể ngấm vào một bộ phận lớn các tín đồ.
Đây là một trong những lý do mà chúng ta cần phải cảnh giác, coi chừng những gì chúng ta dạy dỗ. Chúa Jêsus phán trong Mathiơ 7.15: "Hãy coi chừng tiên tri giả, là những kẻ mang lốt chiên đến cùng các ngươi, song bề trong thật là muông sói hay cắn xé". Phaolô nói với các trưởng lão Êphêsô trong Công Vụ các Sứ Đồ 20.29: "Còn tôi biết rằng sau khi tôi đi sẽ có muông sói dữ tợn xen vào trong vòng anh em, chẳng tiếc bầy đâu".
D. Các giáo sư giả bắt bớ nhiều người khác (các câu 10-11).
Kế đó Phaolô nói: "Trong Chúa, tôi đối với anh em có lòng tin cậy nầy, là anh em chắc không có ý khác…". Phaolô vốn biết rõ ở trong lòng rằng sự sai lạc ấy sẽ không thắng hơn lẽ thật cho được. Ông dám nói chắc rằng người Galati sẽ đạt tới chỗ ý thức được và nhìn thấy sự dạy giả dối nầy thực sự nó giả dối như thế nào!?! Sự tin tưởng của ông không những đặt nơi họ, mà còn đặt "trong Chúa" nữa, vì Chúa sẽ dẫn họ vào trong mọi lẽ thật. Như ông đã nói với người thành Philíp: "tôi tin chắc rằng Đấng đã khởi làm việc lành trong anh em, sẽ làm trọn hết cho đến ngày của Đức Chúa Jêsus Christ" (Philíp 1.6).
Bất luận một tín đồ chân chính có rơi vào chỗ sai lạc như thế nào đi nữa, số phận đời đời của người đã được đặt để, được Đức Chúa Trời nắm chặt lấy rồi. Chúa Jêsus đã phán trong Giăng 10.28-29: "Ta ban cho nó sự sống đời đời; nó chẳng chết mất bao giờ, và chẳng ai cướp nó khỏi tay ta. Cha ta là Đấng lớn hơn hết đã cho ta chiên đó, và chẳng ai cướp nổi chiên đó khỏi tay Cha".
Số phận của các giáo sư giả kia, những kẻ đã dẫn dắt người khác sai lạc là sự phán xét. Trong câu 10, vị sứ đồ nói thêm: "…nhưng kẻ làm rối trí anh em, bất luận người nào, sẽ chịu hình phạt về điều đó".
Câu 11 dường như cho rằng những kẻ theo giáo Giu-đa, các giáo sư giả xưng rằng Phaolô đã nhất trí với sự dạy của họ. Phaolô hỏi: "Hỡi anh em, về phần tôi, nếu tôi còn giảng phép cắt bì, thì sao tôi còn bị bắt bớ nữa?" Nếu ông vẫn rao giảng người ta cần phải chịu phép cắt bì, thì tại sao người Do thái cứ bắt bớ ông hoài vậy? Nếu phép cắt bì cứu rỗi được, thì chẳng ai cần đến sự chết của Đấng Christ và "sự vấp phạm về thập tự giá há chẳng phải bỏ hết rồi sao?"
Stott viết: "Phaolô đưa bản thân mình cùng các giáo sư giả vào sự đối chiếu. Họ đang giảng về phép cắt bì; ông đang giảng về Đấng Christ và thập tự giá. Giảng về phép cắt bì là nói cho hạng tội nhân biết rằng họ có thể tự cứu lấy họ bằng những việc lành của riêng họ; giảng Đấng Christ bị đóng đinh trên thập tự giá là nói cho họ biết họ không thể tự cứu được và chỉ có Đấng Christ mới có quyền cứu họ nhờ vào thập tự giá … giảng về phép cắt bì là tránh né sự bắt bớ; giảng Đấng Christ bị đóng đinh trên thập tự giá là mời đón sự bắt bớ đó. Người ta không thích nghe họ sẽ được cứu chỉ tại nơi chơn của thập tự giá, và họ chống đối nhà truyền đạo nào nói với họ điều đó".
E. Các giáo sư giả sẽ bị dứt bỏ (câu 12).
Sau cùng, Phaolô nói: "Nguyền cho kẻ gieo sự rối loạn trong anh em thà họ tự chặt mình là hơn!" Đây là một trong những câu nói khắc nghiệt nhất mà chúng ta có từ vị sứ đồ. Ông chẳng chút thương xót đến tà giáo đã được rao ra bởi những kẻ theo giáo Giu-đa dạy giả dối đến nỗi ông ao ước họ sẽ "tự chặt" hay tự cắt xẻo mình. Bản Kinh Thánh NEB dịch cụm từ nầy như sau: "tự mình làm nên hoạn".
Phaolô vốn yêu thương dân sự của Đức Chúa Trời và lẽ thật của Ngài đến nỗi ông ao ước bất kỳ ai làm hư hoại công việc của Đức Chúa Trời sẽ bị dứt bỏ đi. Ông nói trong 1.8: "Nhưng nếu có ai, hoặc chính chúng tôi, hoặc thiên sứ trên trời, truyền cho anh em một tin lành nào khác với Tin Lành chúng tôi đã truyền cho anh em, thì người ấy đáng bị a-na-them!" Hỡi Hội thánh, chúng ta là những cá nhân tín đồ nên có một tình cảm đó, một sự khao khát muốn có lẽ thật!
Cho phép tôi kết luận với hai tư tưởng sau cùng.
Chúng ta một là chọn Đấng Christ hay chọn phép cắt bì. Tất nhiên là phép cắt bì có ý nói tới bất kỳ một phương thức nào tiếp cận Đức Chúa Trời bởi các việc làm của chúng ta, bằng sự tin tưởng vào một việc gì đó khác hơn Đấng Christ. Quí vị đang tin vào phép báptêm hay tin theo Chúa Jêsus? Quí vị đang tin nơi nhà thờ của mình hay tin theo Chúa Jêsus? Quí vị đang tin vào gia đình mình hay tin theo Chúa Jêsus?
Chúng ta một là chọn tự do hay là chọn nô lệ. "Đấng Christ đã buông tha chúng ta cho được tự do", vì lẽ đó chúng ta phải "đứng vững" trong sự tự do vinh hiển của chúng ta. Chúng ta chớ lại "để mình" dưới bất cứ một hình thái tôn giáo “tôi mọi” nào nữa. Chúng ta cần phải giữ lấy vòng tròn của mình, những đường ranh giới tuy chặt chẽ nhưng rất rộng rãi của chúng ta.
Danny Cox, một cựu phi công phản lực đổi sang làm thầu kinh doanh, ông nói với các độc giả của mình trong tờ Seize the Day rằng khi các máy bay chiến đấu phản lực được sáng chế ra, chúng đã "bay nhanh hơn loại phi cơ có trước chúng. Vì vậy việc viên phi công bị hất tung ra ngoài là một quá trình rất công phu. Tất nhiên là theo lý thuyết, mọi sự mà viên phi công cần phải làm là ấn một cái nút, bay ra khỏi phi cơ, rồi rời khỏi chiếc ghế cho tới khi dù mở ra".
Nhưng có một vấn đề phát sinh trong cuộc thử nghiệm đó. Một số phi công, thay vì bung ra ngoài, sẽ ngồi lì trên chiếc ghế. Chiếc dù sẽ bị kẹt giữa chỗ ngồi và lưng của viên phi công.
Các vị kỹ sư quay trở lại với bảng vẽ rồi đi đến một giải pháp. Cox viết: "Bản thiết kế mới chỉ ra sợi dây đai 2 inches. Một đầu gắn vào gờ trước của chỗ ngồi, dưới mông của viên phi công. Còn đầu kia gắn vào ống đặt phía sau đầu viên phi công có truyền điện. Hai giây sau khi bung ra, ống sắt có truyền điện chỗ dựa đầu phi công ngay lập tức buông lỏng sợi dây đai, rồi đẩy viên phi công ra phía trước rời khỏi chỗ ngồi, rơi tự do một lúc chờ dù mở ra".
Kết luận, ấy là các phi công lái máy bay phản lực chiến đấu cần dụng cụ đẩy họ ra khỏi chiếc ghế ngồi. Thắc mắc, ấy là điều gì sẽ đẩy chúng ta ra khỏi vị trí của mình?

Thứ Tư, 4 tháng 5, 2011

Galati 5.1: "Được Buông Tha"

Tự do thực – Galati
Được Buông Tha
Galati 5.1

Trong 11 năm, một người có tên là Merhan Karimi Nasseri đã sống trong phi trường Paris. Ông là một người không có tổ quốc. Ông không có một giấy thông hành nào hết. Ông chẳng có quyền công dân. Ông chẳng có một giấy tờ nào có thể giúp ông rời khỏi phi trường hay bay tới một quốc gia nào khác. Ông đã bị trục xuất ra khỏi bản quốc của ông là Iran. Người Pháp đã đưa ông tới nước Anh, nhưng ông đã từ chối không chịu vào và được gửi trả về lại Paris. Khi ông được gửi về lại phi trường Paris vào năm 1988, giới chức ở phi trường đã cho phép ông ngụ ở Terminal 1, và ông đã ở đó ngót 11 năm, khi viết trong một quyển nhật ký, sống nhờ vào của bố thí từ các nhân công làm việc tại phi trường, làm vệ sinh lau chùi các phòng tắm ở phi cảng. Thế rồi vào tháng 9 năm 1999, nhà cầm quyền Pháp đã cấp cho Nasseri một thẻ du lịch quốc tế và giấy phép cư trú ở Pháp. Đột nhiên ông có quyền tự do đi bất cứ đâu ông muốn. Khi các quan chức ở phi cảng trao cho ông các giấy tờ có quyền đi lại nầy, trước sự ngạc nhiên của mọi người, ông chỉ mĩm cười, xếp các tờ giấy lại, rồi mở nhật ký ra viết tiếp. Ông rất sợ phải rời khỏi băng ghế và chiếc bàn đã trở thành quê hương của ông trong 11 năm trời. Khi thời gian trôi qua và Nasseri từ chối không chịu ra đi, các quan chức ở phi trường nói họ sẽ không ném ông ta ra khỏi phi cảng, mà họ sẽ dịu dàng và kiên nhẫn giúp cho ông ta tìm được một mái ấm gia đình mới.
Ông Nasseri là biểu tượng cho nhiều Cơ đốc nhân. Câu gốc chép: "Đấng Christ đã buông tha chúng ta cho được tự do". Chúa Jêsus phán: "Vậy nếu Con buông tha các ngươi, các ngươi sẽ thật được tự do" (Giăng 8.36). Khi chúng ta dâng đời sống của mình cho Đấng Christ, quả thực Ngài buông tha cho chúng ta được tự do. Tuy nhiên, giống như người kia trong phi cảng, chúng ta sợ hãi không dám bước ra với sự tự do đó. Nhiều người tín đồ chọn ở lì trong hình thái xu hướng về với luật pháp hơn là kinh nghiệm sự tự do đáng mừng thuộc về họ trong Đấng Christ.
Galati 5.1 là câu trọng tâm của cả quyển sách. Đây là đỉnh cao, là tâm điểm và là linh hồn của bức thư. Nó bộc bạch xúc tích sứ điệp mà sứ đồ đã trình bày rất chi tiết. Câu nầy chép như sau: "Đấng Christ đã buông tha chúng ta cho được tự do; vậy hãy đứng vững, chớ lại để mình dưới ách tôi mọi nữa".
Thành thực mà nói, tôi tính gộp cả các câu 1-12 cho hôm nay. Tuy nhiên, khi tôi bắt đầu nghiên cứu phân đoạn vào đầu tuần nầy, tôi không thể bỏ qua câu 1 được. Tôi càng xem xét câu nầy, thì càng đào bới lẽ thật nhiều từ nó. Tôi đã cố gắng chuyển qua những câu kế tiếp, song Đức Thánh Linh cứ giữ tôi lại tập trung vào câu thứ nhứt nầy. Trong câu nói nầy, Đức Thánh Linh cung ứng cho chúng ta các chìa khoá để sinh sống trong sự tự do.
Không may, cả hai bản Kinh Thánh NKJV và KJV không cung ứng phần giải thích sát nghĩa bản gốc Hy lạp trong câu nầy. Bản Kinh Thánh NKJV chú thích như sau: "Vì sự tự do mà Đấng Christ đã lập cho chúng ta; hãy đứng vững". Bản Kinh Thánh NRSV đọc như sau: "Vì sự tự do mà Đấng Christ đã cung ứng cho chúng ta. Vậy, hãy đứng vững…" Bản Kinh Thánh NEB chép: "Đấng Christ đã cung ứng sự tự do để chúng ta trở thành hạng người tự do". Bản Kinh Thánh NCV nói như sau: "Chúng ta có sự tự do trong lúc bây giờ, vì Đấng Christ đã khiến cho chúng ta được tự do".
Còn trong bản Kinh Thánh Hy lạp, câu nầy được chia ra thành hai câu phân biệt. Chúng ta sẽ xem xét riêng từng câu đó. Thứ nhứt, có NỀN TẢNG cho sự tự do của chúng ta: "Đấng Christ đã buông tha chúng ta cho được tự do". Kế đó là cách BẢO HỘ cho quyền tự do của chúng ta, "Vậy hãy đứng vững""Chớ lại để mình dưới ách tôi mọi nữa". Sau cùng, bằng cách ứng dụng cá nhân, chúng ta sẽ xem xét CÁC GIỚI HẠN của quyền tự do của chúng ta.
I. Nền tảng cho quyền tự do của chúng ta.
A. Chúng ta được buông tha từ đâu?
Đúng là một câu nói thật vang dội: "Đấng Christ đã buông tha chúng ta cho được tự do". Quí vị nên gạch dưới hay tô bóng câu nầy trong quyển Kinh Thánh của mình và ghim nó thật chặt trong tấm lòng của quí vị. Cả quyển sách Galati được tóm tắt lại trong câu nói đó. Chúng ta không còn là tôi mọi nữa. Chúng ta không còn ở dưới vòng "nô lệ" nữa. Chúng ta được tự do, "tự do thực". Vậy thì, nói theo cách thuộc linh, thì có nghĩa gì?
Tôi bắt đầu loạt bài học về thư tín Galati bằng cách so sánh tình trạng tôi mọi thuộc linh của chúng ta với tình trạng nô lệ của người châu Phi trong lịch sử nước Mỹ. Abraham Lincoln được gọi là "Nhà Giải Phóng Nô Lệ Vĩ Đại" vì ông đã nghĩ ra Bản Tuyên Ngôn Giải Phóng Nô Lệ dẫn tới chỗ phóng thích tất cả các nô lệ. Theo một ý nghĩa rộng rãi hơn nhiều, Chúa Jêsus là Đấng Giải Phóng Nô Lệ Vĩ Đại vì Ngài đã ban cho chúng ta sự tự do thực và là sự tự do sau cùng. Chúa Jêsus buông tha chúng ta cho được tự do để sống trong sự tự do. Chúng ta hãy xét qua chỗ mà "Đấng Christ buông tha chúng ta cho được tự do".
Chúng ta đã được giải phóng ra khỏi QUYỀN LỰC CỦA TỘI LỖI. Là những người tin Chúa đã được sanh lại trong Đức Chúa Jêsus Christ, chúng ta không phải phạm tội nữa. Quyền lực của tội lỗi thắng hơn chúng ta đã bị bẻ gãy rồi. Rôma 6.6-7 chép: "vì biết rõ rằng người cũ của chúng ta đã bị đóng đinh trên thập tự giá với Ngài, hầu cho thân thể của tội lỗi bị tiêu diệt đi, và chúng ta không phục dưới tội lỗi nữa. Vì ai đã chết thì được thoát khỏi tội lỗi". Chúng ta đã được sanh lại. Chúng ta có một bổn tánh mới. Khi chúng ta phạm tội, chúng ta phạm tội bởi sự chọn lựa.
Chúng ta đã được giải phóng ra khỏi ÁN PHẠT CỦA TỘI LỖI. Giăng 3.36 chép: "Ai tin Con, thì được sự sống đời đời; ai không chịu tin Con, thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người đó". Chúa Jêsus đã gánh lấy "cơn thạnh nộ" hay cơn giận dữ của Đức Chúa Trời thay cho chúng ta. Ngài đã trả giá cho án phạt vì cớ tội lỗi của chúng ta, vì vậy chúng ta không phải gánh lấy nữa. Bởi đức tin nơi Ngài chúng ta có sự sống đời đời, chớ không phải sự chết đời đời đâu!
Chúng ta đã được giải phóng ra khỏi TÌNH TRẠNG LÀM TÔI MỌI CHO LUẬT PHÁP. Đây là mục tiêu chính của Phaolô trong phân đoạn nầy. Như chúng ta đã thấy qua nhiều lần rồi, luật pháp, tôn giáo, và tình trạng nô lệ. Vô luận chúng ta cố gắng sống tốt đẹp như thế nào đi nữa, theo đúng luật lệ, thực hành đạo pháp, chúng ta luôn luôn rơi vào chỗ thiếu mất. Thậm chí nếu chúng ta có thấy mình đang làm lành cho nhiều người khác, trong tấm lòng chúng ta biết rõ chúng ta chưa được thay đổi. Hình thức xu hướng về luật pháp đang bắt lấy dân sự vì họ không thể nới lỏng được mọi xích xiềng của họ.
Chúng ta đã được giải phóng ra khỏi TỘI LỖI CỦA CHÍNH MÌNH. Hết thảy chúng ta đều phạm tội. Hết thảy chúng ta đều có những tật xấu chứa ở trong phòng riêng mình, những điều kín nhiệm đáng xấu hổ mà chúng ta đang che giấu rất cẩn thận. Satan, kẻ thù của chúng ta đang hạ thấp chúng ta với tội lỗi nầy. Tuy nhiên, Chúa Jêsus đã giải phóng chúng ta ra khỏi nó. Kinh Thánh chép trong Rôma 8.1: "Cho nên hiện nay chẳng còn có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Jêsus Christ". Chúng ta không xét đoán bản thân mình vì Chúa Jêsus không xét đoán chúng ta. Ngài biết rõ mọi sự về chúng ta, nhưng Ngài theo một phương thức nào đó đã tha thứ cho chúng ta. Thi thiên 103.12 chép: "Phương đông xa cách phương tây bao nhiêu, thì Ngài đã đem sự vi phạm chúng tôi khỏi xa chúng tôi bấy nhiêu".
Chúng ta đã được giải phóng ra khỏi CHIẾC LƯỚI THÀNH TÍCH. Nếu quí vị đã được cứu, Đức Chúa Trời đang yêu thương quí vị dù quí vị có như thế nào đi nữa. Ngài không hề yêu quí vị kém hơn và Ngài không hề yêu quí vị nhiều hơn. Tuân giữ một chuỗi luật lệ hay những điều răn cấm đã có sẵn kia sẽ không làm tăng sự ưu ái của Ngài đối với quí vị hoặc mọi thất bại và thiếu sót của quí vị không thục xuất được ân điển của Ngài trên đời sống của quí vị đâu. Tình yêu thương vô điều kiện của Đức Chúa Trời rất khó cho chúng ta nắm bắt lấy, song đấy là sự thực. Quí vị không phải đóng trò để được đẹp lòng Đức Chúa Trời đâu.
Chúng ta đã được giải phóng ra khỏi SỰ TRÔNG MONG NƠI NGƯỜI KHÁC. Rôma 14.4 chép: "Ngươi là ai mà dám xét đoán tôi tớ của kẻ khác? Nó đứng hay ngã, ấy là việc chủ nó; song nó sẽ đứng, vì Chúa có quyền cho nó đứng vững vàng". Tôi không có ý nói rằng người khác không phải buộc lòng trông mong của họ phải đặt nơi quí vị và xét đoán quí vị; nhưng họ không phải là quan án tối hậu của quí vị đâu. Chúa Jêsus đã giải phóng chúng ta ra khỏi tình trạng lo toan thường trực trước những điều mà người khác có thể suy nghĩ về chúng ta.
Chúng ta đã được giải phóng ra khỏi QUYỀN KHỐNG CHẾ CỦA SATAN. Trước khi quí vị gặp gỡ Chúa Jêsus, Satan đã có quí vị trong nắm tay của hắn rồi. Hắn đã đùa giỡn với quí vị giống như một cây đàn vĩ cầm vậy. Mặc dù quí vị không biết được sự ấy, kẻ gian ác đang nắm lấy quyền chỉ huy trong đời sống của quí vị. Khi quí vị được sanh lại, Chúa Jêsus đã phá vỡ thế nắm bắt của Satan trên quí vị rồi. Quí vị không còn phải khiêu vũ trong giai điệu của hắn nữa. I Giăng 4.4 chép: "Hỡi các con cái bé mọn, phần các con, là thuộc về Đức Chúa Trời, đã thắng được họ rồi, vì Đấng ở trong các con là lớn hơn kẻ ở trong thế gian".
Chúa Jêsus đã chịu chết để giải phóng chúng ta ra khỏi những vất vả nầy. Ngài muốn chúng ta sống đời sống của Đức Thánh Linh, mà Phaolô đang giới thiệu ra trong chương nầy. Ông muốn biết sự bình an, vui mừng và tình yêu thiết thực, chớ không phải là tình trạng tôi mọi. "Đấng Christ buông tha chúng ta cho được tự do". Ngài đã ban cho chúng ta một thứ còn quí hơn cả thứ tôn giáo cũ rích, khô khan. Nếu chúng ta đặt tâm trí mình vào đấy, có lẽ chúng ta sẽ nghĩ tới nhiều việc khác nữa mà Chúa Jêsus đã giải phóng chúng ta cho ra khỏi. Tuy nhiên, chúng ta hãy xét mặt kia của động tiền. Chúa Jêsus đã buông tha chúng ta để làm gì?
B. Chúng ta được buông tha để làm gì?
Chúng ta được buông tha để KHÔNG SỐNG DƯỚI ÁCH TÔI MỌI nữa. Quí vị thấy cụm từ "ách tôi mọi" ở phần cuối của câu gốc. Chúng ta sẽ xét thêm trong một phút. Ngay lúc nầy, nhận biết rằng là một tín đồ trong Đức Chúa Jêsus Christ, quí vị không bị ràng buộc bởi bất cứ điều gì. Bởi quyền phép của Ngài chúng ta chắc có sự thắng hơn bất kỳ một tội lỗi, thói hư tật xấu, cơn nghiện ngập nào đang trói buộc chúng ta. I Côrinhtô 15.57 chép: "Nhưng, tạ ơn Đức Chúa Trời đã cho chúng ta sự thắng, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta". Mặc dù chúng ta thường lựa chọn nó, chúng ta không phải sống trong sự thất bại.
Chúng ta được buông tha để NƯƠNG CẬY VÀO ĐỨC THÁNH LINH. Là tín đồ, chúng ta không sống một mình đâu. Thánh Linh của Đức Chúa Trời thường trực ở bên trong chúng ta. Chúng ta không nương cậy vào sự khôn ngoan hay sự tri thức của mình vì Ngài đang dẫn chúng ta vào trong mọi lẽ thật (Giăng 16.13). Không những Đức Thánh Linh mang lại sự tự do, quí vị không thể có sự tự do thuộc linh mà không có sự hiện diện của Đức Thánh Linh. II Côrinhtô 3.17 chép: "Vả, Chúa tức là Thánh Linh, Thánh Linh của Chúa ở đâu, thì sự tự do cũng ở đó".
Hãy lắng nghe điều mà Oswald Chambers đã viết: "Thánh Linh của Đức Chúa Trời luôn luôn là linh của sự tự do; linh không thuộc về Đức Chúa Trời chính là tinh thần nô lệ, linh của sự bắt bớ và phiền muộn. Thánh Linh của Đức Chúa Trời thuyết phục rất căng và rất sống động, nhưng Ngài luôn luôn là Linh củs sự tự do. Đức Chúa Trời là Đấng dựng nên loài chim không bao giờ làm ra những cái chuồng chim; chính con người là kẻ đã làm ra những cái chuồng chim ấy, và sau một thời gian chúng ta đã bị tù túng mà chẳng làm chi được trừ ra kêu chiêm chíp và đứng trên một chân. Khi chúng ta được giải cứu, bước vào đời sống tự do thoải mái của Đức Chúa Trời, chúng ta mới khám phá ra rằng chính Đức Chúa Trời muốn chúng ta phải sống theo sự tự do vinh hiển của sự làm con cái Đức Chúa Trời”.
Chúng ta được buông tha để có SỰ TIẾP CẬN RỘNG MỞ VỚI ĐỨC CHÚA TRỜI. Trong kỹ nguyên Cựu Ước, không một ai dám bước vào Nơi Chí Thánh trong Đền Thờ trừ ra Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm, và ông ta chỉ có thể bước vào đấy mỗi năm một lần mà thôi. Chúa Jêsus đã buông tha chúng ta để chúng ta có thể dạn dĩ đến với Chúa như con cái đến với cha mình vậy. Hêbơrơ 4.16 chép: "Vậy, chúng ta hãy vững lòng đến gần ngôi ơn phước, hầu cho được thương xót và tìm được ơn để giúp chúng ta trong thì giờ có cần dùng". Hêbơrơ 10.22 chép: "nên chúng ta hãy lấy lòng thật thà với đức tin đầy dẫy trọn vẹn, lòng được tưới sạch khỏi lương tâm xấu, thân thể rửa bằng nước trong, mà đến gần Chúa".
Chúng ta được buông tha để YÊN NGHỈ TRONG ÂN ĐIỂN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI. Chúng ta không luôn luôn phải phấn đấu mà chi. Chúng ta không luôn luôn ra vẻ cố gắng gây ấn tượng với Đức Chúa Trời mà chi. Chúa Jêsus phán: "Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ" (Mathiơ 11.28).
Chúng ta được buông tha để TRỞ THÀNH HẠNG NGƯỜI MÀ NGÀI DỰNG NÊN CHÚNG TA PHẢI TRỞ THÀNH. Đức Chúa Trời đã dựng nên chúng ta như những cá nhân. Ngài đã dựng nên chúng ta rất đặc biệt và khác biệt. Khi chúng ta được cứu, Ngài ban cho mỗi một người chúng ta một hỗn hợp các ân tứ thuộc linh. Hình thái hướng theo luật pháp tạo ra hệ vô tính. Còn sự tự do tạo ra tính sáng tạo. Cơ đốc nhân không nhất thiết hết thảy đều giống nhau hay có chung sở thích. Nếu họ giống nhau hết, có gì đó đã sai lầm!
C. Đấng Christ đã khiến cho chúng ta được tự do như thế nào?
Mặc dù sự tự do rất là vinh hiển, sự tự do ấy không phải là rẽ rúng đâu. Sự tự do mà chúng ta thưởng thức trong vai trò là người Mỹ không đến với sự rẽ rúng đâu! Từ Đồi Bunker đến Gettysburg, từ bãi biển Omaha đến Chosin Reservoir, từ Saigon đến Vịnh Ba tư, chúng ta mắc nợ sự tự do của chúng ta đối với những con người dũng cảm, họ đã dâng mạng sống của họ cho xứ sở của chúng ta.
Theo một ý nghĩa lớn lao hơn, "Đấng Christ đã buông tha cho chúng ta được tự do". Sự tự do của Ngài trỗi cao hơn bất kỳ một sự tự do nào về mặt chính trị. Sự tự do của Ngài cũng rất là đắt giá. Ngài đã đánh trận tội lỗi và đã chết trên thập tự giá và đã sống lại đắc thắng ra khỏi mồ mả. Chúng ta được buông tha vì Chúa Jêsus đã chịu chết vì tội chúng ta trên thập tự giá!
Hãy biết rằng không phải ai cũng có sự tự do mà Chúa Jêsus ban cho đâu! Trừ phi quí vị đã được cứu, được sanh lại, quí vị vẫn còn bị cầm trong quyền lực của tội lỗi và quí vị vẫn còn đối mặt với án phạt của tội lỗi. Ngài hiến cho quí vị sự tự do của Ngài như một tặng phẩm và mọi sự quí vị phải lo làm là nhận lãnh sự tự do đó. Giăng 1.12 chép: "Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài". Đấng Christ bởi ân điển mà buông tha chúng ta cho được tự to. Bởi đức tin chúng ta tán thưởng sự tự do nầy.
II. Sự bảo hộ quyền tự do của chúng ta.
Kế đó Phaolô nói cho chúng ta biết chúng ta cần phải "đứng vững" trong "sự tự do" nầy hay/và "chớ lại để mình dưới ách tôi mọi nữa". Chúng ta có hai tư tưởng riêng biệt.
A. Chúng ta bảo hộ sự tự do của mình bằng cách đứng vững.
"Đứng vững" có nghĩa là CHIẾM LẤY MỘT VỊ TRÍ! Đừng để ai đẩy quí vị rơi vào chỗ xiêu về với luật pháp. Từ Hy lạp cho thấy rằng chúng ta cần phải "cứ đứng vững mãi".
I Côrinhtô 16.13 chép: "Anh em hãy tỉnh thức, hãy vững vàng trong đức tin, hãy dốc chí trượng phu và mạnh mẽ". Philíp 1.27 chép: "…Duy anh em phải ăn ở một cách xứng đáng với đạo Tin Lành của Đấng Christ, để hoặc khi đến thăm anh em, hoặc khi vắng mặt, tôi cũng biết rằng anh em một lòng đứng vững, đồng tâm chống cự vì đức tin của đạo Tin Lành, phàm sự chẳng để cho kẻ thù nghịch ngăm dọa mình". Phaolô viết trong Philíp 4.1: "Vậy thì, hỡi anh em rất yêu rất thiết, là sự vui mừng và mão triều thiên cho tôi, kẻ rất yêu dấu ơi, hãy đứng vững trong Chúa".
"Hãy đứng vững" cũng có ý nghĩa giữ lấy hàng ngũ trong chiến trận. Chúng ta cần phải sốt sắng cho sự tự do thuộc linh của chúng ta và cẩn thận giữ lấy nó.
Trong quyển sách của ông có đề tựa là Ý Chỉ cần phải sống theo, Hermon Wouk thuật lại một buổi gặp gỡ mà ông đã có với David Ben-Gurion, vị Tổng Thống đầu tiên của Do thái, trở lại vào thập niên 1950. Khi họ đi kinh lý trên một quốc gia mới thành hình, Ben-Gurion đã nói với Wouk: "Ông phải về sống ở đây. Đây là nơi duy nhứt dành cho người Do thái giống như ông. Ở đây, ông sẽ sống thật tự do". "Tự do ư?" Wouk đã hỏi. "Tự do ư? Với nhiều quân thù đang bao lấy ông, các cấp lãnh đạo của họ đang công khai đe doạ quét sạch ‘thực thể phục quốc Do thái’, với những con đường của ông rất khó vượt qua sau khi mặt trời lặn – tự do ư?" Ben Gurion đã nói vặn lại: "Tôi không nói an ninh, mà tôi nói tự do".
Cũng một thể ấy với sự tự do của chúng ta về mặt thuộc linh. Chúng ta được buông tha nhưng đang sống trong sự tự do không phải luôn luôn là dễ dàng đâu.
Eugene Peterson viết: "Tự do…không thể cho là nắm bắt được đâu; nó phải được canh giữ thật kỹ lưỡng kia. Tự do không phải là thứ có thể đem đặt trong một chiếc hàng rào trống và giữ cho an toàn. Tự do không phải là một đặc ân được ban ra đâu, giống như một học vị được chứng thực là có nhiều đặc lợi và vinh dự vậy đâu. Mỗi ngày chúng ta phải chiếm lấy chỗ đứng của sự tự do một lần nữa. Nếu chúng ta thất bại không đứng cẩn thận và tỉnh táo, sự tự do sẽ bị mất đi".
B. Chúng ta bảo hộ sự tự do của mình bằng cách chối bỏ sự làm tôi mọi đi.
Hãy chú ý cụm từ "chớ lại để mình". Cụm từ nầy có ý nói tới việc bị gài trong một cái bẫy, bị kẹt trong một cái gì đó.
Bố tôi là một người hâm mộ môn đấu bò. Khi tôi còn nhỏ, chúng tôi biến mọi thứ thành khu vực đấu bò. Một trong những khéo léo của những tay đấu bò cự phách nhất là bện dây thừng cột bò. Khi cỡi một con ngựa đã thuần thục rồi, người ấy phải ném một sợi dây quấn quanh cổ con bò rồi bắt lấy nó trong một lượng thời gian ngắn nhất. Thỉnh thoảng, một con bò mạnh sức sẽ bỏ chạy đi khi thòng lọng bị tuộc. Phaolô nói rằng xu hướng thiên về với luật pháp giống như cái thòng lọng đang tìm cách bắt lấy chúng ta. Chúng ta phải cẩn thận coi chừng và tránh né nó!
Cơ đốc nhân “chớ lại để mình” vào cái gì? Họ bị gài vào "ách tôi mọi" lại. Trước kỹ nguyên máy móc, bò được sử dụng để kéo những toa xe và kéo cày. Một cặp bò được gắn vào cái ách bằng cây thật nặng cùng với nhau. Xu hướng quay về với luật pháp, những điều luật và truyền khẩu do con người dựng nên có thể trở thành một cái ách nặng nề. Chúa Jêsus đã buông tha chúng ta cho được tự do không phải chịu mọi sự ấy. Ngài phán trong Mathiơ 11.28-30: "Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ. Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường; nên hãy gánh lấy ách của ta, và học theo ta; thì linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ. Vì ách ta dễ chịu và gánh ta nhẹ nhàng".
Mạng lịnh cơ bản, ấy là từ khi Đấng Christ buông tha quí vị cho được tự do, hãy cứ ở trong sự tự do. Xu hướng quay về với luật pháp đang hiện hữu ở quanh chúng ta. Có hình thức thiên về với luật pháp trong việc thêm vào ân điển của Đức Chúa Trời trong sự cứu rỗi. Có người nói quí vị tin cậy theo Chúa Jêsus phải thêm vào phép báptêm, thuộc viên Hội thánh, địa vị thuộc viên của Hội thánh, các việc lành… Có xu hướng thiên về với luật pháp theo cách phô mình. Có người tin rằng ngay sau khi quí vị được cứu, quí vị đã làm lành tốt hơn hoặc Đức Chúa Trời sẽ đánh hạ quí vị. Có xu hướng thiên về với luật pháp theo truyền khẩu. Nhiều người đã sa vào bẫy phục vụ theo cách "vì chúng tôi luôn luôn làm thế" theo lý trí. Họ nghĩ họ đang dạy giáo lý, nhưng cái điều mà họ thực sự đứng dạy dỗ là những điều truyền khẩu đặc biệt theo Kinh Thánh. Thật là ngạc nhiên khi chúng ta thực sự nghiên cứu Kinh Thánh cho bản thân mình, chúng ta thấy rất nhiều việc chúng ta tưởng có ở trong Kinh Thánh mà chẳng thực sự có ở đây. Rồi có xu hướng thiên về với luật pháp theo cách tạm thời nữa. Một số tín đồ còn non nớt nhìn vào truyền khẩu như chẳng chạm tới được và như lỗi thời rồi vậy. Họ cố bám vào thế hệ của họ. Họ đã thất bại không nhìn biết rằng họ chỉ là thiên về với luật pháp, họ có một hình thái thiên về với luật pháp rất khác biệt.
Hãy lắng nghe điều mà nhà ngôn ngữ học Kenneth Wuest đã viết: "Sự tự do được nói tới ở đây không đề cập tới loại sự sống mà một người đang sống, nó cũng không có ý gì với lời nói và hành động của người ấy, nhưng nó có việc phải làm với phương pháp bởi đó người nầy sống đời sống ấy. Người Do thái đã sống đời sống của họ bằng cách nương vào nổ lực riêng của mình trong một nổ lực vâng theo luật pháp. Các Cơ đốc nhân người thành Galati đã sống đời sống của họ với trong sự nương cậy nơi Thánh Linh của Đức Chúa Trời. Tấm lòng của họ đã bị Chúa Jêsus chiếm hữu, mọi chi tiết trong đời sống của họ được dẫn đắt bởi các nguyên tắc xử thế nổi bật lên từ sự dạy của các sứ đồ, cả lý thuyết và thực hành. Bây giờ, khi nhảy qua luật pháp, họ đang đánh mất sự tự do hành động đó và tính linh động của sự tự quyết định mà một người có khi làm theo điều chi là phải, khi một ngươi làm phải, không phải vì luật pháp ngăn cấm điều quấy và truyền ra điều phải, mà vì đó là điều phải, vì điều đó làm đẹp lòng Chúa Jêsus, và vì sự kính sợ dành cho Ngài. Phaolô khuyên chúng ta phải giữ lấy chỗ đứng ấy thật nhanh trong sự tự do ấy…"
III. Các giới hạn trong sự tự do của chúng ta.
Khi Kinh Thánh nói tới sự tự do thuộc linh của chúng ta, thì không có nghĩa là chúng ta được buông tha để làm bất cứ điều chi đâu. Giả sử hết thảy chúng ta quyết định tham dự cuộc nhảy dù. Chúng ta bật dậy trong máy bay ở độ cao 10.000 feet và sắp nhảy ra ngoài cửa máy bay. Tôi nhìn thẳng vào quí vị rồi nói: "Quí vị biết không, nhảy dù từ trên không là một kinh nghiệm rơi tự do. Nhưng tôi muốn hơn cả rơi tự do kìa. Lần nầy tôi sẽ nhảy mà không mang dù". Tự do không có nghĩa là chẳng có một sự bó buộc nào. Sự bắt buộc phải có dù nhảy giúp cho vận động viên nhảy dù thưởng thức sự tự do của việc nhảy ra khỏi chiếc máy bay. Không có sự bó buộc đó, nó sẽ không còn là rơi tự do nữa. Nó sẽ trở thành tự tử. Cũng một thể ấy, có một số bó buộc hay giới hạn cho sự tự do của chúng ta.
A. Sự tự do của chúng ta bị hạn chế bởi Lời của Đức Chúa Trời.
Đức Chúa Trời đã vạch một vòng tròn quanh chúng ta rồi phán: "Ta đã làm cho ngươi được tự do. Ngươi có thể làm bất cứ điều gì hay trở thành bất cứ điều gì ngươi muốn bao lâu ngươi còn ở lại trong giới hạn nầy". Vòng tròn lằn ranh ấy là Lời của Ngài, là Kinh Thánh.
Nhiều người muốn đặt các lằn ranh của họ xung quanh chúng ta. Họ muốn nói cho chúng ta biết một Cơ đốc nhân thực sự phải làm gì và không làm gì. Họ muốn nói cho chúng ta biết chúng ta là một Hội thánh địa phương thì nên làm gì và không nên làm gì. Vấn đề, đây là những lằn ranh của họ, chớ không phải của Đức Chúa Trời.
Đây là lý do tại sao thật là quan trọng cho một Hội thánh phải tựu trung vào Kinh Thánh. Mục tiêu của tôi, ao ước của tôi dành cho Hội thánh nầy trên cả mọi điều khác là phải sống gần gũi thật là khả thi với Kinh Thánh. Tôi muốn chúng ta phải giống với các Hội thánh thời Tân Ước. Tôi dạy Kinh Thánh mỗi tuần từng câu một để chúng ta hiểu rõ ràng những điều mà Đức Chúa Trời mong mỏi nơi chúng ta. Đối với tôi, các hệ phái nói một Hội thánh phải ra như thế nào thì chẳng có ảnh hưởng gì bao nhiêu. Các vị Mục sư nói sao, thì cũng vậy thôi. Tôi không muốn các giới hạn của họ. Tôi muốn các giới hạn của Đức Chúa Trời kìa.
Đây cũng là lý do tại sao thật là quan trọng cho mỗi một chúng ta phải trở thành học viên của Kinh Thánh. Đây là lý do tại sao tôi thường bảo quí vị rằng quí vị cần phải ở trong Ngôi Lời. Nếu quí vị không biết Kinh Thánh, quí vị sẽ để cho người khác đặt ra các giới hạn cho quí vị.
Tôi nhớ khi quí phụ nữ được phép mặc sọt đi nhà thờ. Các nhà truyền đạo đã mắng nhiếc người nào mặc sọt. Tôi tìm ra một câu Kinh Thánh nói phụ nữ không nên mặc sọt đi nhà thờ. Có nguyên tắc tổng quát về tính giản dị, nhưng chẳng có nguyên tắc nào đặc biệt về quần sọt cả. Nếu quí vị không biết Ngôi Lời, người khác sẽ đặt ra những giới hạn trên quyền tự do của quí vị.
Có người nói chúng ta chỉ nên hát các bài thánh ca. Chẳng có gì ai với việc hát những bài thánh ca cả. Đôi khi tôi thích hát những bài thánh ca. Tuy nhiên, chẳng có một phân đoạn nào trong Kinh Thánh nói chúng ta chỉ nên hát những bài thánh ca mà thôi. Mỉa mai thay, Kinh Thánh nói có ít nhất ba loại bài hát mà chúng ta nên hát. Êphêsô 5.19 và Côlôse 3.16 cả hai đều nhắc tới "ca vịnh, thơ thánh và bài hát thiêng liêng".
Hãy nghiên cứu Ngôi Lời cho bản thân mình. Hãy bằng lòng với giới hạn của mình. Quí vị sẽ ngạc nhiên với những gì quí vị tìm thấy trong Kinh Thánh… và ngạc nhiên với những gì quí vị không tìm thấy. Quí vị có thể khám phá ra con bò thiêng liêng của mình đã bị nghiền nát ra thành thịt hamburger!
B. Sự tự do của chúng ta bị hạn chế bởi sự chúng ta tin cậy Đức Chúa Trời.
Ra khỏi sự tự do thuộc linh thường là sự sợ hãi. Chúng ta sợ những điều người khác sẽ nghĩ hay nói về chúng ta. Nhiều lần chúng ta không làm theo những gì Đức Chúa Trời hướng dẫn chúng ta làm vì cớ sợ hãi. Châm ngôn 29.25 chép: "Sự sợ loài người gài bẫy; Nhưng ai nhờ cậy Đức Giê-hô-va được yên ổn vô sự".
Phierơ rơi vào nan đề ấy ở chương 2. Ông đang tận hưởng sự tự do thuộc linh khi ăn uống với các tín hữu dân Ngoại cho tới khi mấy người Giu-đa có khuynh hướng quay về với luật pháp xuất hiện. Ông sợ những điều họ nghĩ suy về sự tự do của ông rồi kết thúc bằng sự thoả hiệp với Tin lành. Phaolô phải công khai quở trách ông. Ngay cả vị sứ đồ cao cả Phierơ đã e sợ con người thay vì tin cậy nơi Đức Chúa Trời.
Nếu quí vị cảm thấy Đức Chúa Trời đang dẫn dắt quí vị làm theo điều chi đó, quí vị phải kiểm tra điều ấy theo Ngôi Lời và quí vị biết mình đang ở trong các giới hạn của Đức Chúa Trời, đừng sợ mọi điều người khác suy nghĩ.
C. Sự tự do của chúng ta bị hạn chế bởi tình yêu của chúng ta dành cho dân sự của Đức Chúa Trời.
Có một điều kiện duy nhứt trong đó chúng ta cho phép người khác giới hạn sự tự do của chúng ta, ấy là khi chúng ta gây cho một anh em yếu đuối hơn phải vấp ngã. Một số Cơ đốc nhân trong kỹ nguyên Tân Ước đã có một nan đề với việc ăn thịt đã được đem cúng cho hình tượng. Sứ đồ Phaolô vốn biết rõ Ngôi Lời. Ông không e sợ con người. Ông vốn biết rõ rằng chẳng có gì sai với thịt ấy và ông vốn có sự tự do thuộc linh để ăn nó. Tuy nhiên, ông chủ ý giới hạn sự tự do của mình nếu ông ở với kẻ sẽ vấp ngã vì cớ thịt đó. Ông nói trong I Côrinhtô 8.13: "Cho nên, nếu đồ ăn xui anh em tôi vấp phạm, thì tôi sẽ chẳng hề ăn thịt, hầu cho khỏi làm dịp vấp phạm cho anh em tôi".
I Phierơ 2.16 chép: "Hãy ăn ở như người tự do, nhưng chớ dùng tự do làm cái màn che sự hung ác, song phải coi mình là tôi mọi Đức Chúa Trời". I Côrinhtô 8.9 chép: "Nhưng hãy giữ lấy, kẻo sự tự do mình làm dịp cho kẻ yếu đuối vấp phạm". Sau đó trong Galati 5.13, Phaolô nói với chúng ta: "Hỡi anh em, anh em đã được gọi đến sự tự do, song chớ lấy sự tự do đó làm dịp cho anh em ăn ở theo tánh xác thịt, nhưng hãy lấy lòng yêu thương làm đầy tớ lẫn nhau".
Chúng ta không nhất thiết phải lên mình về sự tự do của chúng ta, nhưng phải giữ kẽ trước các tín hữu chưa trưởng thành.
Cách đây một tháng, tôi có đưa đứa con gái của tôi là Ashlea 10 tuổi đi săn chim bồ câu. Bầy chim bồ câu không bay nữa, vì vậy một người bạn đề nghị chúng tôi đi thăm dò các khu đất lạ của người da đỏ. Dọc đường, ông ta chỉ ra vài vật cứng có màu sắc rất lạ từng được sử dụng làm đầu mũi tên. Ashlea bắt đầu chọn lấy chúng để trong chiếc túi bằng da của nó. Khi ấy chúng tôi đã đi bộ cả dặm đường, nó đi chậm lại ở đàng sau nhóm nhỏ của chúng tôi. Sau cùng, nó ngồi bệt xuống đất rồi bắt đầu kêu khóc. Tôi bước tới trao đổi ngắn với nó, bảo nó phải cẩn thận hơn. Chỉ khi đó tôi mới nhận ra lý do tại sao nó đi lùi lại phía sau. Nó mang cái túi đựng khoảng 30 cân vật cứng kia trong cái túi bằng da của nó. Không nghi ngờ chi nữa, nó đã kiệt sức! Chúng tôi đã vứt bỏ phần vật cứng được tuyển lựa kia và nó cảm thấy khá hơn 100%!
Nhiều người trong chúng ta đã lặn lội qua cuộc sống để nhặt lấy những mãnh xu hướng về luật pháp, những bản danh mục những việc nên và không nên làm. Chúng ta đã chất trên lưng của mình gánh nặng nhiều năm tháng truyền khẩu, sợ hãi và thành kiến do con người lập nên. Đôi khi gánh nặng ấy đã khiến cho chúng ta muốn bỏ cuộc. Mọi sự mà Chúa Jêsus muốn chúng ta là phải "lột bỏ mọi gánh nặng" rồi chạy với niềm vui mừng trong sự tự do mà Ngài đã mang đến cho chúng ta.

Thứ Hai, 2 tháng 5, 2011

Galati 4.21-31: "Ích-ma-ên hay Y-sác?"



Tự do thực – Galati
Ích-ma-ên hay Y-sác?
Galati 4.21-31

Đây là một trong những phân đoạn kỳ lạ nhất trong Tân Ước và khó tranh cãi nhất trong sách Galati. Tôi đã dành thì giờ sửa soạn cho tuần lễ nầy vì cớ sự khó khăn của nó. Vì tôi muốn dạy cả Kinh Thánh từng câu một và vì tôi tin rằng "Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình" (II Timôthê 3.16), chúng ta sẽ không phải bỏ qua phân đoạn nầy. Sự thật cho thấy rằng cái giếng càng sâu, thì nước càng ngọt. Các phân đoạn khó giống như phân đoạn nầy thu hút tâm trí của chúng ta, khiến cho chúng ta phải suy nghĩ và lý luận với nhau. Tôi hy vọng rằng quí vị sẽ không thụ động hay cô đọng đầu óc của mình lại khi chúng ta cùng nhau nghiên cứu. Ngược lại, tôi hy vọng quí vị sẽ cùng với tôi đào cho thật sâu. Tôi muốn quí vị kềm lại những thắc mắc và sau đó hãy đưa chúng ra. Đừng ngần ngại khi đưa ra những thắc mắc. Nguyện Thánh Linh của Đức Chúa Trời đem đến cho chúng ta nước ngọt của Ngôi Lời với một sự kính sợ dành cho ân điển lạ lùng của Đức Chúa Trời.
Phân đoạn nầy được nói với các tín hữu nào đã bị gò bó trong thái độ xu hướng về luật pháp, với những ai "ưa phục dưới luật pháp" (câu 21). Đây là lỗi lầm của người thành Galati. Họ đã được cứu bởi ân điển vô đối của Đức Chúa Trời, nhưng thay vì tận hưởng sự tự do đã được tìm thấy trong Đấng Christ, họ lại bị giục giã quay trở lại, lo tuân giữ các nghi thức, điều lệ và nội quy của luật pháp Cựu Ước.
Mặc dù ngày nay có ít người cố gắng sống theo bộ luật của Môise, hình thái thiên về với luật pháp vẫn còn nhan nhản. Có nhiều người tin con đường đến với Đức Chúa Trời phải bằng cách sống nhơn đức, đạt tới sự cứu rỗi nhờ vào các việc lành. Thậm chí có nhiều Cơ đốc nhân chân chính, họ đổi tin lành thành luật pháp. Họ tin rằng con đường duy nhứt để hoà thuận lại với Đức Chúa Trời là phải trở thành một thuộc viên của nhà thờ và làm mọi việc theo cách của họ tùy vào truyền thống nhuần luật pháp. Chúa Jêsus đã phán với người Pharisi: "Sự chúng nó thờ lạy ta là vô ích, vì chúng nó dạy theo những điều răn mà chỉ bởi người ta đặt ra" (Mác 7.7).
Về những kẻ "ưa phục dưới luật pháp" nầy, Sứ đồ Phaolô hỏi: "Anh em há không nghe luật pháp sao?" hoặc "Há anh em không biết những điều luật pháp dạy sao?" Trong câu 22, ông đưa ra chính xác cái điều mà Cựu Ước chép. Ông bắt đầu với: "Vì có chép rằng". Nói cách khác: "Nếu anh em không biết những điều mà luật pháp dạy, cho phép tôi nói cho anh em biết". Ông gặp gỡ những người ưa phục dưới luật pháp nầy trên chính vùng đất của họ và buộc họ phải suy nghĩ.
Phân đoạn Kinh Thánh có thể được chia ra làm ba tiểu đoạn. Thứ nhứt, có bối cảnh theo lịch sử, quay ngược lại tới Ápraham, vợ ông là Sara, con đòi ông là Aga, hai con trai ông là Ích-ma-ên và Y-sác. Thứ hai, có biểu tượng về mặt thuộc linh, một ẩn dụ Tân Ước nói tới các biến cố trong Cựu Ước được Thánh Linh cảm thúc. Cuối cùng, có tầm quan trọng của cá nhân, phải ứng dụng phân đoạn khó nầy như thế nào vào đời sống chúng ta hôm nay. Mục đích của cả phân đoạn, ấy là nếu chúng ta là những Cơ đốc nhân xác thực, thì chúng ta không nên sống giống như Ích-ma-ên, như hàng tôi mọi, mà như Y-sác, là một người con của sự tự do. Vì cớ đó, tôi đưa ra câu hỏi đây, quí vị là một Ích-ma-ên hay một Y-sác?
I. Bối cảnh theo lịch sử (các câu 21-23).
A. Một người Cha, hai con trai (câu 22a)
Phaolô nói: "vì có chép rằng" hay "đây là những gì luật pháp nói”. Luật pháp nói "rằng Ápraham có hai con trai". Mặc dù phần nhiều người trong quí vị rất thông thạo lịch sử Hêbơrơ, tôi không muốn mất nhiều thời gian. Chúng ta hãy để ra một vài phút làm quen với gia đình của Ápraham.
Sau sự sáng tạo, sự sa ngã và nước lụt, đúng nhiều thế kỷ trước khi Đức Chúa Trời tỏ chính mình Ngài ra cho con người biết. Khi Ngài làm như thế, Ngài tỏ mình ra cho một người có tên là Ápraham hay Ápram. Trong sách Sáng thế ký, chúng ta học biết rằng Đức Chúa Trời đã phán với Ápraham và đã lập một giao ước với ông, một lời hứa. Đức Chúa Trời đã hứa ban cho ông xứ Canaan trong vùng Trung đông và làm cho ông nên một dân lớn đông vô số giống như sao trên trời và như cát trên bãi biển. Ápraham là một cụ già khi Đức Chúa Trời lập với ông lời hứa nầy. Ông đã được 75 tuổi và vợ ông là Sara đã được 65 tuổi.
Đây là những lời hứa đáng kinh ngạc, tuy nhiên Kinh Thánh nói Ápraham không thắc mắc hay nghi ngờ chi các lời hứa của Đức Chúa Trời. Thực vậy, 3.6 chép: "Ápraham tin Đức Chúa Trời và điều đó được kể là công bình cho ông".
Sara hay Sarai, vợ của Ápraham thì bị son sẻ, không có khả năng có con được. Bà đã tin vào lời hứa của Đức Chúa Trời nhưng lại quyết định giúp đỡ cho Ngài. Không có một bịnh viện hay thuốc men chuyên gây thụ tinh nào để cho bà sử dụng cả. Vì vậy bà đã làm một việc duy nhứt mà bà có thể nghĩ ra. Bà mang tới cho Ápraham con đòi người Ai cập của mình có tên là Aga. Sáng thế ký 16.2 chép: "Sa-rai nói cùng Áp-ram rằng: Nầy, Đức Giê-hô-va đã làm cho tôi son sẻ, vậy xin ông hãy lại ăn ở cùng con đòi tôi, có lẽ tôi sẽ nhờ nó mà có con chăng. Áp-ram bèn nghe theo lời của Sa-rai".
Bản chất của con người không hề thay đổi. Thế rồi Aga có thai với Ápraham là điều chắc chắn. Nàng đã không nói cho bà chủ của mình biết. Kinh Thánh chép Aga "khinh bỉ bà chủ mình" (Sáng thế ký 16.4). Aga đã hành động với sự miệt khinh đối cùng Sara. Khi Sara than phiền với Ápraham, ông nói với bà: "Nầy, con đòi đó ở trong tay ngươi, phân xử thể nào, mặc ý ngươi cho vừa dạ" (Sáng thế ký 16.6). Sara bèn đuổi Aga ra khỏi trại quân. Một mình trong đồng vắng, "Thiên sứ của Đức Giêhôva" đã đến với Aga. Ngài nói với nàng rằng nàng sẽ có một con trai, nó sẽ trở thành một dân lớn, nàng sẽ đặt tên cho nó là Ích-ma-ên có nghĩa là "Đức Chúa Trời đang lắng nghe", và nàng phải trở lại với Sara. Nàng đã làm theo mọi sự nầy và Ích-ma-ên ra đời cho Aga và Ápraham khi ông được 86 tuổi.
Ápraham đã rất tự hào. Ông yêu thương Ích-ma-ên và cứ tưởng nó là đứa con được hứa cho lâu nay. Đức Chúa Trời phải chỉnh ông lại. Đức Chúa Trời phán với ông theo cách rất đặc biệt về Sara trong Sáng thế ký 17.16: "Ta sẽ ban phước cho nàng, lại do nơi nàng ta sẽ cho ngươi một con trai, Ta sẽ ban phước cho nàng, nàng sẽ làm mẹ các dân tộc; những vua của các dân tộc sẽ do nơi nàng mà ra". Nhiều thời gian đã trôi qua. Ích-ma-ên giờ đây đã được 13 tuổi. Ápraham nghiêng trên mặt nó cười và "… nói thầm rằng: Hồ dễ người đã trăm tuổi rồi, mà sanh con được chăng? Còn Sa-ra, tuổi đã chín mươi, sẽ sanh sản được sao?" Khi ấy Ápraham đã cầu nguyện xin cho Ích-ma-ên sẽ trở thành người con được hứa cho, nhưng Đức Chúa Trời đáp: “không phải”. Ích-ma-ên sẽ trở thành tổ phụ của các nước Ả rập nhưng Chúa nói thêm: "Nhưng ta sẽ lập giao ước ta cùng Y-sác, độ khoảng nầy năm tới Sa-ra phải sanh cho ngươi".
Thực vậy, đúng thời điểm đã định, Sara cho ra đời một đứa con trai mà họ đặt tên là Y-sác hay là "cười". Ápraham đã 100 tuổi và Sara khoảng 90 tuổi vào lúc bấy giờ. Tôi ưa cách thức Hêbơrơ 11.11-12 mô tả phép lạ nầy: "Cũng bởi đức tin mà Sa-ra dẫu có tuổi còn có sức sanh con cái được, vì người tin rằng Đấng hứa cho mình điều đó là thành tín. Cũng vì đó mà chỉ một người, lại là một người già yếu, sanh ra muôn vàn con cháu, đông như sao trên trời, như cát bãi biển, không thể đếm được".
Thực vậy, "Ápraham có hai con trai" nhưng bấy nhiêu đấy vẫn chưa phải là toàn bộ lịch sử đâu.
B. Hai người mẹ, hai SỰ SANH NỞ (các câu 22b-23)
Hai con trai của Ápraham có hai người mẹ khác nhau. Một là "con của người nữ tôi mọi""một là con của người nữ tự chủ". Mẹ của Ích-ma-ên là Aga, một nô lệ, con đòi của Ápraham. Mẹ của Y-sác là Sara, một người nữ tự chủ, là vợ của Ápraham. Ích-ma-ên ra đời trong vòng nô lệ; còn Y-sác chào đời trong sự tự do.
Hai người con trai nầy ra từ hai người mẹ khác nhau, có hai sự sanh nở khác nhau. Ích-ma-ên là "con của người nữ tôi mọi sanh ra theo xác thịt". Còn Y-sác là "con của người nữ tự chủ" sanh ra "theo lời hứa".
Sự ra đời của Ích-ma-ên là "theo xác thịt", điều nầy hoàn toàn thật tự nhiên. Ích-ma-ên đã đến với thế gian nầy theo đúng một phương thức mà quí vị và tôi đã đến.
Qua phần xác thịt, sự ra đời của Y-sác là tự nhiên, theo cách thuộc linh thì sự ra đời nầy rất siêu nhiên. Sự thực cho thấy rằng một cụ già 100 tuổi và một bà cụ 90 tuổi có thể có được một đứa con không thể là không lạ lùng cho được. Quả thật, Y-sác đã sanh ra "theo lời hứa". Y-sác không ra đời "theo xác thịt" mà ngược lại với xác thịt, ngược lại với mọi sự tự nhiên.
Mẹ tôi đã được 35 tuổi khi tôi chào đời và bố tôi khi ấy là 40 tuổi. Bố mẹ tôi luôn luôn cao tuổi hơn bố mẹ của bạn bè tôi. Hãy tưởng tượng xem Y-sác đã cảm nhận như thế nào!?!
II. Biểu tượng về mặt thuộc linh (các câu 24-27).
A. Một ẩn dụ của Kinh Thánh (câu 24a).
Bản Kinh Thánh New King James dịch lời lẽ của Phaolô trong câu 24 như sau: "những việc ấy có tính cách biểu tượng". Bản Kinh Thánh New International Version dịch câu nầy là: "Mọi sự nầy có thể xem là hình bóng". Chữ Hy lạp là allegoreo và nhiều bản dịch dịch chữ nầy chính xác là "hình bóng".
Allegoreo có một ý nghĩa "nói khác hơn điều mà người ta đang nói". Chữ nầy được sử dụng để nói tới một câu chuyện chứa ý nghĩa khác hơn những gì là sát nghĩa. Tự điển Webster xác định từ "hình bóng" "một sự trình bày có tính cách ẩn ý". Trong phân đoạn nầy, chúng ta có lẽ thật thuộc linh được minh họa bởi một câu chuyện có trong lịch sử.
Có nhiều nguy hiểm vốn có khi sử dụng các hình bóng. Nhiều sự lý giải lệch lạc và những giáo lý giả dối đã phát sinh từ chỗ sử dụng ẩn dụ không thích ứng. MacArthur lưu ý: "Các rabi xưa đều đặn sử dụng một hình thức bóng bẩy để giải thích Kinh Thánh, thường xưng là khám phá các lẽ thật cực kỳ “kỳ lạ”đáng ngạc nhiên, kín giấu nằm ở đàng sau ý nghĩa thông thường của các từ vựng trong một câu Kinh Thánh. …những học giả người Do thái trong xứ Alexandria đã phát triễn một hệ thống nói bóng bẩy về Kinh Thánh gây ảnh hưởng mạnh không những trên Do thái giáo, mà còn trên Công giáo La mã cho tới thời kỳ Cải Chánh Tin Lành. Thí dụ, dòng sông Euphrates được coi là sự tuôn tràn những cung cách tốt lành. Chuyến hành trình của Ápraham từ xứ Urơ cho tới Đất Hứa đã vẽ ra một triết gia theo phái khắc kỹ, triết gia nầy đã bỏ đi các nhận thức có tính gợi cảm rồi bước vào ý thức về mặt thuộc linh. Hai đồng tiền mà người Samari nhơn lành đưa cho chủ quán là biểu tượng cho phép báptêm và tiệc thánh. Giáo Hoàng Gregory xưng rằng bảy người con trai của Gióp tiêu biểu cho 12 sứ đồ, các bạn của ông tiêu biểu cho những người theo dị giáo, 7.000 chiên của ông tiêu biểu cho dân sự trung tín của Đức Chúa Trời, và 3.000 lạc đà của ông tiêu biểu cho số dân Ngoại bị hư mất! Biểu tượng là suy nghĩ của Pandora bất chấp ý nghĩa về mặt lịch sử, văn học của Kinh Thánh và mở ra sự giải thích Kinh Thánh theo từng cấp độ".
Trong khi cấp độ hình bóng là đọc một vấn đề trong một câu nói rõ ràng là không có trong đó, ở một cấp độ khác vấn đề ấy được đọc rất cứng ngắt. Thí dụ, khi Phaolô trưng dẫn lời nói của Chúa Jêsus về tiệc thánh trong I Côrinhtô 11, ông nói về bánh như sau: "Nầy là thân thể ta, vì các ngươi mà phó cho" (I Côrinhtô 11.24). Có người cho là câu nầy có ý nói rằng bánh THEO NGHĨA ĐEN trở thành thân thể của Chúa khi rõ ràng Kinh Thánh có ý nói bánh tiêu biểu cho thân thể của Chúa đã hy sinh vì chúng ta.
Ok, nếu hình bóng là một phương pháp nguy hiểm cho sự lý giải Kinh Thánh, thì tại sao nó lại được sử dụng ở đây? Thật là đơn giãn. Phaolô là một vị sứ đồ. Ông được Đức Thánh Linh cảm thúc khi ông đặt bút viết, tỉ như cách nói bóng nầy đã được Đức Thánh Linh cảm thúc vậy, chớ không phải loài người cảm thúc đâu. Nguyên tắc giải thích các ẩn dụ, kiểu cách, hình bóng trong Cựu Ước là nếu nó được khẳng dịnh trong Tân Ước.
B. Hai người đờn bà là biểu tượng cho hai GIAO ƯỚC và hai THÀNH PHỐ (các câu 24b-27).
Phaolô nói "Hai người nữ [hai người mẹ] đó tức là hai lời giao ước". Nói cách khác, Aga tiêu biểu cho sự tôi mọi trong Giao ước Cũ, tức là Cựu Ước. Sara tiêu biểu cho sự tự do của Giao ước Mới, tức là Tân Ước. "Giao ước" có nghĩa là "lời hứa", rất đơn giãn như vậy thôi. Giao ước cũ dựa theo luật pháp; còn giao ước mới dựa theo ân điển của Đức Chúa Trời. Dưới giao ước cũ, Đức Chúa Trời đã đặt gánh nặng luật pháp trên con người: "Ngươi sẽ… ngươi sẽ… ngươi sẽ…" Còn dưới Giao Ước Mới, Đức Chúa Trời giữ hết thảy trách nhiệm trên chính mình Ngài: "Ta sẽ… Ta sẽ… Ta sẽ…".
Phaolô cũng nhắc tới hai thành phố. Aga "khác nào như thành Jerusalem bây giờ" (câu 25). Trong câu 26 ông viết về "thành Jerusalem ở trên cao". Thành Jerusalem tất nhiên là thủ phủ xa xưa của dân Israel. Thành Jerusalem đối với nước Israel và người Do thái theo cùng một cách thức y như Moscow đối với nước Nga, Tokyo đối với Nhật bản, London đối với nước Anh và Washington D.C. đối với Hiệp Chủng Quốc Hoa kỳ. Người Do thái biết tuân giữ luật pháp, Cựu Ước tiêu biểu cho "khác nào như thành Jerusalem bây giờ" vậy.
Chúng ta hãy xét qua hai người nữ nầy theo cách riêng biệt và hãy xem xét cả hai giao ước và hai thành phố mà họ đang tiêu biểu cho.
Aga tiêu biểu cho luật pháp. Nàng "sanh con để làm tôi mọi". Phaolô nói "Aga, ấy là Núi Sinai trong Arabi". "Núi Sinai" tất nhiên là nơi mà Môise đã tiếp nhận luật pháp. Aga tiêu biểu cho Giáo Ước Cũ vì là một tôi mọi, nàng chỉ có thể sanh con ra để làm tôi mọi mà thôi. Câu 25 nói nàng "với con cái mình đều làm tôi mọi". Luật pháp chỉ có thể tạo ra hạng tôi mọi về mặt thuộc linh. Nàng "khác nào như thành Jerusalem bây giờ".
Tuy nhiên, Sara rất khác biệt. Câu 26 chép: "Nhưng thành Giê-ru-sa-lem ở trên cao là tự do, và ấy là mẹ chúng ta". Nếu Aga, mẹ của Ích-ma-ên, là người nữ nô lệ đứng thay cho luật pháp và thành Jerusalem ở trên đất, thì Sara, mẹ của Y-sác, là người nữ tự do đứng thay cho ân điển, Giao Ước Mới và thành Jerusalem ở trên trời, là Hội thánh, là bạn đồng hành của hết thảy những ai được chuộc.
Tân Ước đưa ra một vài luận điểm trước "thành Jerusalem ở trên cao" nầy. Là những tín đồ, được sanh lại bởi ân điển của Đức Chúa Trời chúng ta là công dân của thành phố ở trên trời ấy. Philíp 3.20 chép: "Nhưng chúng ta là công-dân trên trời; ấy là từ nơi đó mà chúng ta trông đợi Cứu Chúa mình là Đức Chúa Jêsus Christ".
Khi đối chiếu luật pháp với ân điển, Núi Sinai với thành Jerusalem trên trời, Hêbơrơ 12.18-22 chép: "Anh em chẳng tới gần một hòn núi mà người ta có thể rờ đến được, cũng chẳng đến gần lửa hừng, hoặc tối tăm, hoặc âm ế, hoặc gió dữ, hoặc tiếng loa thổi vang, hoặc tiếng nói kinh khiếp đến nỗi ai nghe đều nài xin đừng nói với mình nữa; vì họ không chịu nổi lời phán nầy: Dẫu loài thú vật tới gần núi nầy cũng sẽ bị ném đá. Lại cảnh trạng đó rất kinh khiếp, đến nỗi Môi-se nói rằng: Ta thật sợ sệt và run rẩy cả người. Nhưng anh em đã tới gần núi Si-ôn, gần thành của Đức Chúa Trời hằng sống, tức là Giê-ru-sa-lem trên trời, gần muôn vàn thiên sứ nhóm lại".
Giăng tác giả sách Khải huyền viết trong Khải huyền 21.2: "Tôi cũng thấy thành thánh, là Giê-ru-sa-lem mới, từ trên trời, ở nơi Đức Chúa Trời mà xuống, sửa soạn sẵn như một người vợ mới cưới trang sức cho chồng mình". Tôi không nghĩ câu nầy nói nhiều tới một địa điểm, mà là nói nhiều đến một dân sự!
Cho nên, Sara là "hình bóng" nói tới ân điển của Đức Chúa Trời, thể nào Ngài ban cho chúng ta một sự sanh nở thuộc linh lạ lùng vào trong gia đình đời đời của Ngài, khiến chúng ta thành ra các công dân của thành phố của Ngài, là chi thể của Hội thánh của con trưởng nam Ngài, là cô dâu của Ngài đã trang sức đón chồng mình!
Chúng ta quay trở lại và đọc câu 27. Câu nầy được trưng dẫn từ Êsai 54.1 nguyên thủy đề cập tới sự vinh hiển của thành Jerusalem sau lần làm phu tù cho người Babylôn. Đức Chúa Trời đang phán với Israel qua tiên tri của Ngài rằng thành Jerusalem sau khi làm phu tù sẽ cả thể hơn thành Jerusalem trước cuộc phu tù. Sự ứng nghiệm quan trọng hơn của câu nầy đã được thấy ở đây, rằng sự vinh hiển của thành Jerusalem trước Đấng Christ sẽ bị phủ bóng bởi sự vinh hiển của Hội thánh sau khi Đấng Christ tái lâm. Nói cách khác, số người sống trong ân điển và sự tự do của Đức Chúa Trời một ngày kia sẽ trổi hơn số người đang ở trong vòng tôi mọi cho luật pháp.
Cho nên đây là biểu tượng, là hình bóng. Ápraham có hai người con trai, sanh ra bởi hai người nữ tiêu biểu cho hai giao ước và hai thành phố. Họ tiêu biểu cho hai tôn giáo, một ở trong vòng tôi mọi và luật pháp và một ở trong sự tự do và ân điển. Aga và Ích-ma-ên tiêu biểu cho hết thảy những ai cố gắng đến với Đức Chúa Trời bằng sức riêng của họ, những kẻ tìm cách kiếm ơn cứu rỗi của họ bằng việc làm và tôn giáo. Sara và Y-sác tiêu biểu cho những ai đến với Đức Chúa Trời theo khả năng của Ngài, họ tiếp nhận ơn cứu rỗi của mình bằng ân điển của Đức Chúa Trời qua Con của Ngài.
III. Tầm quan trọng cá nhân (các câu 28-31).
Trong câu 28, Phaolô đưa ra tầm quan trọng của cá nhân nầy. Ông nói: "Về phần chúng ta", chúng ta là những người đã thực sự được cứu, chúng ta "cũng như Y-sác""con của lời hứa". Chúng ta không cần phải ở dưới Giao Ước Cũ nữa; chúng ta không cần phải ở dưới luật pháp; chúng ta không cần phải sống trong vòng tôi mọi nữa. Chúng ta giống như Y-sác được sanh ra thật lạ lùng vào trong gia đình của Đức Chúa Trời. Chúng ta là sự ứng nghiệm lời hứa của Đức Chúa Trời cho Ápraham; chúng ta là dân thánh của Đức Chúa Trời!
Vì chúng ta là "con của lời hứa", vì chúng ta giống như Y-sác, chúng ta không nên sống như Ích-ma-ên. Chúng ta không phải sống dưới vòng tôi mọi đối với hình thức thiên về với luật pháp hay luật pháp. Trong các câu còn lại của chương nầy, Phaolô dạy chúng ta hai lẽ thật có liên quan với chúng ta trong vai trò anh em với Y-sác, là "con của lời hứa".
A. Chúng ta sẽ đối mặt với SỰ BẮT BỚ (câu 29).
Phaolô nói: "Nhưng, như bấy giờ, kẻ sanh ra theo xác thịt bắt bớ kẻ sanh ra theo Thánh Linh, thì hiện nay cũng còn là thể ấy".
Hãy xem lại với tôi Sáng thế ký 21. Lời hứa của Đức Chúa Trời đã thành ra sự thực. Y-sác đã chào đời khi Ápraham được 100 tuổi và Sara khoảng 90 tuổi. Ích-ma-ên đã ở khoảng 14. "Đứa trẻ phép lạ" nầy không nghi ngờ chi nữa là điểm nổi bật cho đời sống của bố mẹ trong lúc tuổi đã già rồi. Tôi dám nói như thế vì tôi đã ra đời cho bố mẹ có tuổi đã cao. Tuy nhiên, đừng quên người anh khác mẹ to lớn kia. Ích-ma-ên biết rõ Y-sác là điểm nổi bật rồi. Ích-ma-ên biết rõ Y-sác được ưu ái hơn mình và Ích-ma-ên sanh lòng ganh ghét cực kỳ.
Theo câu 8, Y-sác "lớn lên thì thôi bú" vào khoảng ba tuổi. Để kỷ niệm thời điểm đặc biệt nầy, "Ápraham bày một tiệc lớn ăn mừng". Không nghi ngờ chi nữa, đã có nhiều thức ăn, âm nhạc, nhảy múa và sự vui mừng lan khắp trại của họ. Trong khi bữa tiệc còn đang tiếp diễn, Ích-ma-ên đã bực tức. Câu 9 chép: "Sa-ra thấy đứa trai của A-ga, người Ê-díp-tô, đã sanh cho Áp-ra-ham, cười cợt". Là thế đấy. Đấy là những gì chúng ta biết chắc. Chữ Hy bá lai nói tới "cười cợt" có ý nói "cười thoải mái, khinh dễ, chế giễu". Đúng vậy, em bé Y-sác là đối tượng cho trò cười của Ích-ma-ên.
Trở lại trong Galati 4.29, Phaolô nói: "nhưng, như bấy giờ". Đây là nói về mặt thuộc thể. Dòng dõi Ả rập theo phần xác của Ích-ma-ên luôn luôn và cứ tiếp tục bắt bớ dòng dõi theo phần xác của Y-sác.
Điều chi thực sự về phần thuộc thể thì càng thực hơn về mặt thuộc linh. Dòng dõi thuộc linh của Ích-ma-ên, những kẻ đang ở dưới vòng tôi mọi cho các việc làm và luật pháp đã luôn luôn bắt bớ dòng dõi thuộc linh của Y-sác, những người đang ở dưới ân điển và sự tự do, là "con của lời hứa".
Chúng ta phải trông mong y như thế. Chúng ta trông đợi sự bắt bớ từ thế gian và chúng ta dễ dàng nhận ra sự bắt bớ đó. Tuy nhiên, chúng ta cũng thấy sự bắt bớ của xu hướng thiên về với luật pháp từ bên trong gia đình của Đức Chúa Trời bởi những kẻ dù là con cái giống như Y-sác lại thích sống dưới luật pháp hơn. Chúa Jêsus đã bị chối bỏ, bị chống đối cách cay đắng, bị bán đứng, bị đánh đòn rồi bị đóng đinh trên thập tự giá bởi người Do thái. Những kẻ thù oan nghiệt của Phaolô là các Cơ đốc nhân người Do thái gọi là những kẻ theo giáo Giu-đa, họ đã tiếp nhận Đấng Christ nhưng lại không chịu lìa bỏ luật pháp. Sự bắt bớ tệ hại nhất các tín đồ trải xuống qua nhiều thế kỷ đã đến từ tôn giáo Cơ đốc có tổ chức. Y-sác luôn luôn bị chế giễu và bị bắt bớ bởi Ích-ma-ên.
Stott nói thêm như sau: "Loại kẻ thù quan trọng nhất của đức tin đã được truyền giảng ngày hôm nay không phải là những người chưa tin Chúa, là hạng người khi họ nghe giảng Tin lành, họ thường vòng tay ôm lấy Tin lành đó, mà là giáo hội, có tổ chức, hàng giáo phẩm". Vấn đề hệ phái, ấy là tổ chức đang tìm cách đối mặt với các Hội thánh địa phương, những vị Mục sư và cá nhân tín đồ trước lối giải thích của họ về Cơ đốc giáo hơn là lối giải thích của Đức Chúa Trời.
B. Chúng ta sẽ nhận lãnh CƠ NGHIỆP (các câu 30-31).
Phaolô thốt ra lời lẽ của Sara nói với Ápraham, vì Kinh Thánh chép: "Hãy đuổi người nữ tôi mọi và con trai nó; vì con trai của người nữ tôi mọi sẽ không được kế tự với con trai của người nữ tự chủ". Mặc dù Y-sác phải gánh chịu sự khinh miệt của Ích-ma-ên, chính Y-sác mới là người nhận lãnh cơ nghiệp.
Một lần nữa, Ápraham đã cầu nguyện xin cho Ích-ma-ên trở thành kẻ kế tự. Ông thưa với Đức Chúa Trời trong Sáng thế ký 17.18: "Chớ chi Ích-ma-ên vẫn được sống trước mặt Ngài!" Đức Chúa Trời phán trong câu 19: "Thật vậy, Sa-ra vợ ngươi, sẽ sanh một con trai, rồi ngươi đặt tên là Y-sác. Ta sẽ lập giao ước cùng nó, để làm giao ước đời đời cho dòng dõi của nó". Mặc dù Đức Chúa Trời để cho Ích-ma-ên trở thành một dân lớn (dân Ả rập) Ngài phán với Ápraham trong Sáng thế ký 21.12: "Ngươi chớ buồn bực vì con trai và con đòi ngươi. Sa-ra nói thể nào, hãy nghe theo tiếng người nói; vì do nơi Y-sác sẽ sanh ra dòng dõi lưu danh ngươi".
Kẻ kế tự thực của lời hứa Đức Chúa Trời cho Ápraham không phải là con cái theo phần xác của ông trong nước Israel đâu, mà là con cái thuộc linh của ông, những tín đồ đã được lại sanh dù là người Do thái hay dân Ngoại.
Giống như Y-sác, chúng ta có sự đau đớn và sự bắt bớ ở mặt nầy, nhưng có cơ nghiệp và sự vinh hiển ở mặt kia. Ở phía nầy chúng ta bị người ta khinh dễ và chối bỏ, nhưng ở bên kia chúng ta là con cái của Đức Chúa Trời. Rôma 8.17 chép: "Lại nếu chúng ta là con cái, thì cũng là kẻ kế tự: kẻ kế tự Đức Chúa Trời và là kẻ đồng kế tự với Đấng Christ, miễn chúng ta đều chịu đau đớn với Ngài, hầu cho cũng được vinh hiển với Ngài".
Phaolô nhìn thấy vấn đề nầy trong II Côrinhtô 6.8-10: Chúng ta sống "dầu vinh dầu nhục, dầu mang tiếng xấu, dầu được tiếng tốt; ngó như kẻ phỉnh dỗ, nhưng là kẻ thật thà; ngó như kẻ xa lạ, nhưng là kẻ quen biết lắm; ngó như gần chết, mà nay vẫn sống; ngó như bị sửa phạt, mà không đến chịu giết; ngó như buồn rầu, mà thường được vui mừng; ngó như nghèo ngặt, mà thật làm cho nhiều người được giàu có, ngó như không có gì cả, mà có đủ mọi sự!"
Là những Cơ đốc nhân chân chính, chúng ta là dòng dõi của Ápraham và như Y-sác "con của lời hứa". Chúng ta là công dân của thành Jerusalem mới, ở trên trời, là "thành Jerusalem ở trên cao". Mặc dù chúng ta sẽ bị bắt bớ, hết thảy mọi lời hứa của Đức Chúa Trời cho dân sự Ngài đều thuộc về chúng ta.