Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2011

Galati 3.6-14: "Cha nào con nấy"

Tự do thực – Galati
Cha nào con nấy
Galati 3.6-14
Lâu, lâu lắm rồi ở một nơi xa xôi kia, Đức Chúa Trời đã phán với một người có tên là Ápram. Ápram đã sống trong một thành phố gọi là Urơ xứ Canhđê gần thành phố Bagdad hiện đại hôm nay. Ông không còn là một thanh niên nữa. Thực vậy, ông đã được 75 tuổi rồi. Chúng ta không biết Đức Chúa Trời đã phán với ông trong một giấc chiêm bao trong ban đêm hay một sự hiện thấy trong ban ngày. Ngài phán: "cùng Áp-ram rằng: Ngươi hãy ra khỏi quê hương, vòng bà con và nhà cha ngươi, mà đi đến xứ ta sẽ chỉ cho. Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn; ta sẽ ban phước cho ngươi, cùng làm nổi danh ngươi, và ngươi sẽ thành một nguồn phước. Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước cho ngươi, rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi; và các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước" (Sáng thế ký 12.1-3). Ápraham đã tin theo Đức Chúa Trời. Ngay lập tức ông bỏ hết mọi sự lại ở sau lưng, cuộc sống mà ông đã gầy dựng trong 75 năm để đi theo Đức Chúa Trời. Thêm nữa, ông còn không biết mình sẽ đi đâu nữa là.
Khi Ápraham băng ngang qua đồng vắng đi theo tiếng nói của Đức Chúa Trời, Đức Giêhôva cứ tiếp tục trao đổi với ông về phương thức dòng dõi ông sẽ kế tự cả đất nầy. Có một vấn đề ở đây. Ápraham chưa có một mụn con nào hết. Sau cùng, Ápraham đã trình với Đức Chúa Trời rằng làm thế nào ông có được dòng dõi khi ông là một cụ già mà chưa có con cái. Đức Chúa Trời "dẫn ông ra ngoài" túp lều rồi bảo ông ngước mắt nhìn lên bầu trời đầy sao lúc nửa đêm. Ngài phán: "Ngươi hãy ngó lên trời, và nếu ngươi đếm được các ngôi sao thì hãy đếm đi". Đức Chúa Trời hứa: "Dòng-dõi ngươi cũng sẽ như vậy" (Sáng thế ký 15.5). Về sau Đức Chúa Trời tái khẳng định lại lời hứa. Ngài phán: "sẽ ban phước cho ngươi, thêm dòng dõi ngươi nhiều như sao trên trời, đông như cát bờ biển, và dòng dõi đó sẽ chiếm được cửa thành quân nghịch. Bởi vì ngươi đã vâng theo lời dặn ta, nên các dân thế gian đều sẽ nhờ dòng dõi ngươi mà được phước" (Sáng thế ký 22.17-18). Kinh Thánh phán: "Ápraham tin theo Đức Giêhôva và Ngài kể ông là công bình".
Khi chúng ta mở Kinh Thánh Tân Ước ra ở Luca 3, khoảng 2.000 năm sau đó, chúng ta thấy Giăng Báptít đang nói với người Pharisi, các cấp lãnh đạo tôn giáo của dân Israel. Họ đã đến gặp Giăng muốn chịu ông làm phép báptêm cho. Giăng nói khi quở trách họ: "Thế thì, hãy kết quả xứng đáng với sự ăn năn; và đừng tự nói rằng: Áp-ra-ham là tổ phụ chúng ta; vì ta nói cùng các ngươi, Đức Chúa Trời có thể khiến từ những đá nầy sanh ra con cái cho Áp-ra-ham được".
Con cái ra từ hòn đá, một nước mạnh mẽ ra từ dòng dõi của một cụ già, Đức Chúa Trời của chúng ta là một Đức Chúa Trời Toàn Năng hay làm phép lạ, hay giữ lời hứa. Đúng vậy, Đức Chúa Trời vẫn còn giữ những lời hứa ấy. Ngài vẫn còn gây dựng một nước lớn từ gia phổ của Ápraham và vẫn còn dấy lên con cái của Ápraham từ những tấm lòng bằng đá.
Khi tôi dự kỳ trại của Hội thánh lúc còn là một thiếu niên, chúng tôi đã hát một bài ca có tên là "Cha Ápraham". Bài ca ấy có lời như sau: "Cha Ápraham có nhiều con cháu. Nhiều con cái có Cha Ápraham. Và tôi là một trong số đó và bạn cũng thế, vì vậy chúng ta hãy cùng ngợi khen Chúa". Bài ca ấy có đủ thứ động lực đã được sắp xếp để vực chúng ta dậy và khiến cho chúng ta sẵn sàng với thời thế. Tuy nhiên, bài ca ấy thốt ra một lẽ thật thuộc linh, bởi đức tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ, chúng ta là con cái của Ápraham, chúng ta là những người Do thái chơn thật.
Các tổ phụ của tôi là tín đồ hệ phái Trưởng Lão Tô cách Lan và là những người Anh Báptít. Đối với sự hiểu biết của tôi, tôi chẳng có một dấu vết gì về huyết thống Do thái cả. Thế mà tôi vẫn là một người Do thái, một con cháu của Ápraham… không phải bởi huyết thống mà là bởi đức tin.
Trong phân đoạn Kinh Thánh gốc, sứ đồ Phaolô tiếp tục dạy rằng ơn cứu rỗi là bởi ân điển của Đức Chúa Trời, chớ chẳng phải bởi việc làm đâu. Thực thế, ơn cứu rỗi luôn luôn có bởi ân điển nhờ đức tin và chẳng bao giờ bởi việc làm cả. Ngay cả Ápraham, tổ phụ của dân Do thái đã được cứu bởi ân điển nhờ đức tin. Chúng ta đã trở thành con trai con gái thuộc linh của Ápraham, là người Do thái thực bởi đức tin. Chúng ta hãy xem xét ba lẽ thật từ phân đoạn Kinh Thánh gốc nầy.
I. Đức tin đem lại sự công bình (các câu 6-9).
A. Đức tin của Ápraham đã được kể là công bình cho ông (câu 6).
Các Hội thánh xứ Galati đã được thiết lập chủ yếu gồm các dân Ngoại, là những người đã tin theo Chúa Jêsus dưới chức vụ của Phaolô. Sau khi Phaolô rời khỏi họ, một số các giáo sư giả người Giu-đa ai cũng biết là những người Do thái theo giáo Giu-đa đã luồn lách vào trong Hội thánh. Họ dạy các Cơ đốc nhân dân Ngoại nầy là muốn được cứu, họ phải giữ theo luật pháp Môise và phải chịu phép cắt bì. Trong phân đoạn Kinh Thánh nầy, Phaolô dường muốn nói: "Vậy thì anh em muốn nói về ơn cứu rỗi sao? Anh em muốn nói tới luật pháp chăng? Chúng ta không ngừng nghỉ ở đó với Môise, chúng ta hãy đi suốt con đường trở ngược lại với người Do thái đầu tiên. Chúng ta hãy nói tới Ápraham, là tổ phụ của dân Do thái".
Những người theo giáo Giu-đa đều biết rõ lời hứa, giao ước mà Đức Chúa Trời đã thiết lập với Ápraham. Họ biết rõ nơi ông "mọi chi tộc trên thế gian đều sẽ được phước". Tuy nhiên, họ lý luận rằng nếu các dân Ngoại đều sẽ được phước trong Ápraham, họ sẽ phải trở nên giống như Ápraham và chịu phép cắt bì.
Trong thời của chúng ta, hầu hết các trẻ sơ sinh đều chịu phép cắt bì vì lý do sức khoẻ. Trong các thời kỳ Kinh Thánh thì chẳng phải như vậy đâu. Đức Chúa Trời đã ra lịnh cho Ápraham phải chịu phép cắt bì và phải làm phép cắt bì cho con cái của ông. Ngài phán trong Sáng thế ký17.10: "Mỗi người nam trong vòng các ngươi phải chịu phép cắt bì; ấy là giao ước mà các ngươi phải giữ, tức giao ước lập giữa ta và các ngươi, cùng dòng dõi sau ngươi". Phép cắt bì, là sự cắt bao quy đầu, là một dấu hiệu chỉ ra nhu cần cắt đứt tội lỗi ra khỏi tấm lòng. Là một chi tiết trong bộ phận sinh dục, nó cũng làm biểu tượng chỉ ra bản chất tội lỗi mà chúng ta sẽ thừa hưởng.
Phaolô chỉ ra điều các giáo sư giả nầy dạy còn thiếu sót, ấy là Ápraham đã được cứu từ lâu trước khi Đức Chúa Trời truyền cho ông phải chịu phép cắt bì. Sau khi trưng dẫn Sáng thế ký 15.6, Phaolô nhắc cho họ nhớ Kinh Thánh dạy: "Ápraham tin Đức Chúa Trời thì đã kể là công bình cho người".
Đức Chúa Trời bảo Ápraham phải theo Ngài phải tin nơi lời thật khó tin của Ngài. Ápraham đã tin theo và Đức Chúa Trời đã "kể" hay xem ông là công bình. Ápraham đã được cứu bởi tin chớ không phải bởi thành tựu. Ápraham đã được cứu ít nhất 14 năm trước khi ông được truyền cho phải chịu phép cắt bì. Ông đã sống mấy trăm năm trước khi Đức Chúa Trời ban luật pháp cho Môise.
Phép cắt bì là một dấu hiệu, chớ không phải là phương tiện của sự cứu rỗi. Cũng một thể ấy, phép báptêm là một biểu tượng, chớ không phải là thực thể của sự cứu rỗi đâu. Luôn luôn có một phương thức để được cứu, để làm hoà lại với Đức Chúa Trời và đó là đức tin.
B. Chúng ta trở nên con trai con gái của Ápraham bởi Đức tin (các câu 7-9).
Kế đó, Phaolô nói: "vậy anh em hãy nhận biết rằng những kẻ có đức tin là con cháu thật của Áp-ra-ham".
Ngày nay có một thắc mắc chính giữa vòng dân Do thái, ấy là “ai mới là người Do thái thực?” Nói chung, một người Do thái được xác định là một người có mẹ là người Do thái. Điều nầy có những sự phân nhánh quan trọng trong Israel giống như nó gắn liền với luật nhập cư và là người có thể giữ chức vụ trong xã hội.
Trong câu nầy, Phaolô đang nói tới hai hàm ý rất quan trọng. Thứ nhứt, người nào sanh ra là người Do thái chưa thực sự là người Do thái. Thứ hai, người nào sanh ra không phải là người Do thái có thực sự là người Do thái không? Có nhầm lẫn không? Còn tùy!
Thứ nhứt, người nào sanh ra là người Do thái chưa thực sự là người Do thái. Có những người với huyết thống Do thái nhưng chưa phải là chi thể trong gia đình của Đức Chúa Trời. Phaolô nói: "chỉ những kẻ có đức tin mới là con cháu thật của Ápraham". Một người sanh ra có thể là người Do thái, chịu phép cắt bì rồi tuân giữ mọi quy tắc, nghi thức, và điều lệ của Do thái giáo, thế mà vẫn chưa dám xưng mình là hợp pháp với Ápraham. Tại sao vậy? Vì mối quan hệ họ hàng với Ápraham đến qua đức tin, chớ không phải do di truyền hay do luật pháp.
Trong một ý nghĩa tương tự, tôi biết có nhiều người tin họ là Cơ đốc nhân rất đơn giãn chỉ vì bố mẹ họ là Cơ đốc nhân hoặc vì họ đã lớn lên trong nhà thờ và trong một gia đình Cơ đốc. Bố mẹ của quí vị không thể cứu quí vị được đâu. Nhà thờ của quí vị không thể cứu quí vị được đâu. Phương thức duy nhứt bất kỳ ai sẽ được cứu, thậm chí ngay cả cụ Ápraham đều phải nhờ đức tin mà thôi!
Thứ hai, Phaolô gợi ý cho thấy rằng người nào sanh ra không phải là người Do thái, lại thực sự là người Do thái. Một lần nữa trong câu 7, chúng ta đọc thấy rằng chính "những kẻ có đức tin" mới là con cháu của Ápraham. Quí vị không phải sanh ra là người Do thái mới là con cháu của Ápraham nhưng quí vị còn phải được sanh lại nữa!
Chúng ta không phải trở thành người Do thái. Chúng ta không nhất thiết phải cải đạo. Chúng ta không phải chịu phép cắt bì. Chúng ta không phải giữ luật lệ cùng các nghi thức Cựu Ước. Chúng ta phải đến nhơn "đức tin".
Từ lâu lắm trước khi Chúa Jêsus giáng sinh tại thành Bếtlêhem, từ lâu lắm trước khi Ngài chịu chết trên thập tự giá của người Lamã và đã sống lại ra khỏi ngôi mộ mượn kia, Đức Chúa Trời đã "rao giảng Tin lành [các tin tức tốt lành] cho Ápraham" rằng nơi ông "hết thảy các chi tộc trên thế gian sẽ được phước". Chúng ta được "phước" nhờ có Ápraham. Qua gia đình của Ápraham, Cứu Chúa, Đức Chúa Jêsus Christ đã đến. Nơi Ápraham chúng ta có đức tin để chúng ta phải tin theo Chúa Jêsus.
Phaolô nói: "vậy, anh em hãy nhận biết rằng những kẻ có đức tin (dù họ là người Do thái hay là dân Ngoại, nam hay nữ, đen hay trắng] đều là con cháu của Ápraham". Hết thảy những ai tin Chúa đều là con cháu của Ápraham bởi đức tin chớ không phải bởi huyết thống.
Ápraham biết rất ít về Chúa nhưng khi ông nghe tiếng của Ngài, ông đã vâng theo. Chúng ta biết rất nhiều về Chúa. Chúng ta biết rõ đầy đủ Tin lành nói rằng Chúa Jêsus đã chịu chết vì tội lỗi chúng ta, bị chôn và đã sống lại. Khi chúng ta luyện tập đức tin nơi các tin tức tốt lành đó, chúng ta cũng đã được cứu, đức tin của chúng ta được "kể là công bình".
II. Luật pháp đem lại sự rủa sả (các câu 10-12).
Các giáo sư giả nói rằng tin theo Chúa Jêsus chưa phải là đủ cho một người, người ấy cũng phải chịu phép cắt bì. Thêm nữa, họ còn nói thêm rằng người ấy cũng phải tuân giữ luật pháp và truyền khẩu của Cựu Ước nữa. Phaolô đã chỉ ra rằng Ápraham đã được cứu bởi đức tin từ lâu trước khi luật pháp được ban ra. Giờ đây, ông chỉ ra sự hư không của việc tuân giữ luật pháp. Người nào ra sức tuân giữ luật pháp đang "bị rủa sả".
A. Những điều luật pháp đòi hỏi.
Thứ nhứt, luật pháp đòi hỏi sự làm theo. Phục truyền luật lệ ký 27.26 chép: "Đáng rủa sả thay kẻ nào không giữ các lời của luật pháp nầy để làm theo!" Có lẽ đây là một câu Kinh Thánh rất ưa thích đối với những kẻ theo giáo Giu-đa. Hãy khoanh tròn chữ "làm theo". Biết rõ luật pháp hay nhất trí với luật pháp cũng chưa phải là đủ, một người còn phải "làm theo" luật pháp nữa. Quí vị có luôn luôn "làm theo" luật lệ của con người, ít nhiều gì cũng là luật pháp của Đức Chúa Trời không?
Thứ hai, luật pháp đòi hỏi phải làm theo thật trọn vẹn. Hãy khoanh tròn cụm từ "mọi sự". Nếu quí vị đang ra sức tuân giữ luật pháp, quí vị phải tuân giữ "mọi sự" trong luật pháp. Một là giữ mọi sự, hai là chẳng giữ gì hết. Quí vị không phải lọc lựa rồi chọn đâu! Khi chàng trai trẻ giàu có bị chất vấn về việc tuân giữ luật pháp, chàng ta đáp: "Còn điều nào nữa không?" Hết thảy các luật lệ ấy! Giacơ 2.10 chép: "Vì người nào giữ trọn luật pháp, mà phạm một điều răn, thì cũng đáng tội như đã phạm hết thảy".
Đức Chúa Trời xét đoán bằng nhiều tiêu chuẩn khác nhau. Trong quyển Chúng ta sống bằng lời, Brian Burrell thuật lại về tên cướp có vũ trang tên là Dennis Lee Curtis, hắn đã bị bắt vào năm 1992 tại thành phố Rapid, South Dakota. Curtis chắc chắn đã có những cân nhắc, thận trọng về thói ăn cướp của mình. Trong túi đồ của hắn, cảnh sát tìm thấy một tập giấy, có ghi hàng chữ trên đó như sau: "1. Ta không giết ai trừ phi ta phải giết. 2. Ta sẽ lấy tiền mặt và thực phẩm có dám tem hẳn hòi — không lấy ngân phiếu. 3. Ta sẽ cướp vào ban đêm. 4. Ta sẽ không mang mặt nạ. 5. Ta sẽ không đánh cướp tiểu siêu thị hay 7- Mười một cửa hàng. 6. Nếu ta bị cảnh sát rượt đuổi, ta sẽ bỏ chạy. Nếu bị rượt bằng xe hơi, ta sẽ không xem trọng sinh mạng của cư dân vô tội. 7. Ta sẽ cướp chỉ 7 tháng trong năm mà thôi. 8. Ta sẽ thích cướp bóc từ nhà giàu rồi bố thí cho người nghèo". Tên cướp nầy đã có một nhận thức về đạo đức, nhưng nhận thức ấy không hoàn hảo lắm. Khi anh ta ra trước toà, anh ta không bị xét đoán theo các tiêu chuẩn mà anh ta đề ra cho bản thân mình mà bị xét đoán theo luật pháp cao hơn của tiểu bang. Tương tự thế, khi chúng ta đứng trước mặt Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ không bị xét đoán bởi bộ luật đạo đức mà chúng ta đề ra cho chính bản thân mình, mà một phải theo luật pháp trọn vẹn của Đức Chúa Trời.
Thứ ba, luật pháp đòi hỏi sự làm theo trọn vẹn cách liên tục. Hãy khoanh tròn chữ "bền đỗ". Quí vị phải làm theo luật pháp. Quí vị phải làm theo hết thảy các luật lệ. Quí vị phải giữ luôn việc làm theo tất cả luật lệ mỗi ngày trong đời sống của quí vị. Nếu quí vị có thể làm theo hết thảy luật lệ và quí vị làm theo nó mỗi ngày trong đời sống của mình cho tới ngày quí vị qua đời và quí vị phạm phải một điều, chỉ một điều luật nhỏ nhoi thôi. Quí vị sẽ bị nguyền rủa cho đến đời đời.
B. Những gì luật pháp không thể làm.
Chắc chắn là không một người nào có thể tuân giữ luật pháp. Thực vậy, "Vì mọi kẻ cậy các việc luật pháp, thì bị rủa sả". Tại sao những kẻ cậy các việc luật pháp bị "rủa sả"? Vì như câu 11 chép: "chẳng hề có ai cậy luật pháp mà được xưng công bình [hoà thuận lại với Đức Chúa Trời] trước mặt Đức Chúa Trời, điều đó là rõ ràng lắm". Không một ai có thể thoả mãn mọi đòi hỏi của luật pháp và vì cớ đó bất cứ ai cố gắng sẽ bị rủa sả.
Quí vị là ai thì không thành vấn đề, dù quí vị là người Do thái hay dân Ngoại, dù quí vị sống trong nhà thờ cả đời hay hôm nay là ngay thứ nhứt của mình. Nếu quí vị đang cố gắng làm đẹp lòng Đức Chúa Trời bằng cách nhơn đức thể nào đi nữa quí vị chỉ có thể là quí vị thôi, quí vị sẽ chẳng bao giờ được khá hơn đâu. Quí vị đã bị "rủa sả".
Luật pháp không thể cứu, nó chỉ đem lại sự rủa sả mà thôi. Tuy nhiên, các tin tức tốt lành chỉ ra cho chúng ta thấy chúng ta được cứu bởi đức tin. Phaolô nói thêm ở phần cuối câu 11: "vì người công bình sẽ sống bởi đức tin". Ông nói thêm trong câu 12: "Vả, luật pháp vốn không phải đồng một thứ với đức tin".
III. Chúa Jêsus đem lại nhiều ơn phước (các câu 13-14).
Luật pháp đặt chúng ta "dưới sự rủa sả", còn Chúa Jêsus đã gánh sự rủa sả của chúng ta trên chính mình Ngài. Theo cách thức nầy Ngài "đã chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp".
"Chuộc" có ý nói Chúa Jêsus đã trả giá cho tội lỗi của chúng ta, vì chúng ta thất bại không giữ được luật pháp của Đức Chúa Trời. Ngài đã làm cho chúng ta những gì chúng ta không thể làm được. Nghệ sĩ Kevin Bacon thuật lại đứa con trai 6 tuổi của ông đã xem phim Footloose lần đầu tiên. Nó nói: "Bố ơi, bố biết câu chuyện trong phim chỗ bố đu từ cây xà của toà nhà kia đó? Chỗ ấy lạnh lắm, làm sao bố chịu được hả bố?" Bacon đáp: "Ừ, bố không làm phần đó – mà là diễn viên đóng thế làm đấy". "Diễn viên đóng thế là sao hả bố?" cậu bé cứ hỏi tới. "Đó là người ăn mặc y như bố và làm những việc mà bố không phải làm". "Ồ" nó đáp rồi bước ra khỏi phòng ngẩn ngơ nhìn. Một lát sau nó nói: "Nào, bố ơi, bố biết chuyện trong phim, chỗ bố xoay tròn thanh xà rồi đáp xuống đất? Làm sao bố làm được vậy?" Bacon đáp: "Đúng rồi, bố không làm việc ấy. Đó là một vận động viên thể dục làm đấy". "Vận động viên thể dục là sao ạ?" nó hỏi. "Đó là một người mặc y phục của bố và làm những việc mà bố không thể làm". Có sự im lặng từ phía con trai tôi, kế đó nó hỏi với một giọng rất quan tâm: "Bố ơi, thế bố đã làm việc gì?" "Bố nhận hết mọi sự vinh quang", ông đáp cách ngượng ngùng. Đó là ân điển của Đức Chúa Trời trong đời sống của chúng ta. Chúa Jêsus đã gánh lấy tội lỗi của chúng ta trên chính mình Ngài và đã chịu lấy mọi điều mà chúng ta không thể chịu nổi. Chúng ta đứng vững, được tha thứ và hưởng lấy sự đắc thắng trong vinh quang của Chúa Jêsus.
Chúa Jêsus đã "chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp" như thế nào? Ngài đã trở nên "sự rủa sả vì chúng ta". Phaolô kế đó trưng dẫn từ Phục truyền luật lệ ký 21.23: "Đáng rủa thay là kẻ bị treo trên cây gỗ". Trong Israel chỉ có tội phạm tệ hại nhất mới bị treo trên cây gỗ hay bị đóng đinh trên thập tự giá. Đó là cách chết tệ hại nhất. Không có gì phải ngạc nhiên, chính Chúa Jêsus đã kêu la bằng lời lẽ của Thi thiên 22: "Đức Chúa Trời tôi ôi! Đức Chúa Trời tôi ôi! Sao Ngài lìa bỏ tôi?"
Chính sự kiện Chúa Jêsus đã chịu chết bằng một phương thức khủng khiếp như thế làm thành mối ngăn trở khó vượt qua đối với nhiều người Do thái. Nếu Chúa Jêsus thực sự là Con của Đức Chúa Trời, tại sao Đức Chúa Trời lại để cho Con độc sanh của Ngài, là người thực sự công bình duy nhứt phải chết một cái chết đáng rủa sả khủng khiếp như thế trên thập tự giá?
Đức Chúa Trời là thánh. Ngài không thể miễn trừ hay bỏ quên tội lỗi của chúng ta được đâu! Chúng ta bị rủa sả bởi chúng ta bất khả không thể tuân giữ luật pháp và sự rủa sả ấy phải được trả giá đầy đủ. Chúa Jêsus đã bằng lòng gánh lấy tội lỗi chúng ta trên chính mình Ngài. Ngài gánh lấy sự sủa sả của chúng ta trên thân thể Ngài rồi chịu chết trên thập tự giá trong chỗ của chúng ta.
Hãy tưởng tượng một kẻ giết người bị kết án phải chịu chết xem. Mọi lời kêu nài của hắn đều bị bác bỏ hết. Giờ của hắn đã đến. Án tử hình của hắn đã được ký rồi. Giống như họ sắp sửa dùng dây da cột hắn lại rồi tiêm cho hắn một loại hoá chất sẽ kết liễu cuộc đời của hắn, có một người ngồi trong phòng quan sát kêu lên: "Hãy dừng tay lại! Anh ta không phải chết! Tôi sẽ ngồi ở chỗ của anh ta. Hãy cột tôi vào ghế đi. Hãy tiêm tôi bằng thứ thuốc ấy. Tôi sẽ ngồi chỗ của anh ta". Trong khi sự việc nầy có lẽ không bao giờ xảy ra trong hệ thống luật pháp của chúng ta, nó đã xảy ra cho mỗi một chúng ta. Chúa Jêsus đã gánh lấy chỗ của chúng ta.
Trong khi sự chết của Chúa Jêsus là đủ để trả giá cho tội lỗi của từng người, sự chết ấy không trả giá cách máy móc cho tội lỗi của từng người đâu. Mỗi người phải luyện tập đức tin nơi Chúa Jêsus giống như Ápraham đã tin theo Đức Chúa Trời vậy.
Phaolô nói kết quả sẽ như sau: "phước lành ban cho Áp-ra-ham nhờ Đức Chúa Jêsus Christ mà được rải khắp trên dân ngoại, lại hầu cho chúng ta cậy đức tin mà nhận lãnh Đức Thánh Linh đã hứa cho".
Năm 1961 sau khi bức màn sắt chia hai Bá linh và Nước Đức giữa Đông và Tây, Tổng thống John F. Kennedy đã thân hành đến Bá linh và phát ra một thông điệp nổi tiếng trước hàng triệu người Đức. Ông nói: "Ich bin ein Berliner" [Tôi là một người Bá linh]. Kennedy không có một tiểu cầu máu người Đức nào hết. Ông hoàn toàn là người Ái nhĩ Lan. Tuy nhiên khi ông đưa ra câu nói đó, đám dân đông kia đã vỗ tay reo hò tán thưởng. Tại sao chứ? Vì Kennedy đã tỏ ra một sự hiệp một về tinh thần với người Đức nào chịu sống vượt cao hơn chủ nghĩa Cộng sản.
Tôi là một con cái của Ápraham. Tôi chẳng có một giọt máu nào là người Do thái hết. Tôi không giữ luật pháp hay thói tục. Tuy vậy, tôi là người Do thái còn hơn cả hầu hết những ai đến thờ lạy trong Đền thờ ngày hôm qua. Tôi là dòng dõi của Ápraham và dự phần vào ơn phước của Ápraham bởi đức tin.
Tuần nầy tôi có đọc Kinh Thánh khi Đức Thánh Linh soi sáng một phân đoạn Kinh Thánh tuyệt vời ở Thi thiên 87.1-6. Cho phép tôi đọc phân đoạn ấy: "Cái nền Ngài đã đặt trên các núi thánh. Đức Giê-hô-va chuộng các cửa Si-ôn hơn những nơi ở của Gia-cốp. Ớ thành của Đức Chúa Trời, đã được nói những sự vinh hiển về ngươi. Ta sẽ nói đến Ra-háp và Ba-by-lôn, là những người trong bọn quen biết ta; Kìa là Phi-li-tin, và Ty-rơ, với Ê-thi-ô-bi: Kẻ nầy đã sanh ra tại Si-ôn. Phải, người ta sẽ nói về Si-ôn rằng: Kẻ nầy và kẻ kia đã sanh ra tại đó; Chính Đấng Chí cao sẽ vững lập Si-ôn. Khi Đức Giê-hô-va biên các dân vào sổ, thì Ngài sẽ kể rằng: Kẻ nầy đã sanh tại Si-ôn”. Thực vậy, dù tôi sanh đẻ tại Texas, tôi thực sự đã "sanh tại Siôn". Tôi là một chi thể của dân sự đời đời của Đức Chúa Trời, một đoàn đông kẻ được chuộc bởi đức tin nơi Chúa Jêsus!
Tuần nầy có người gửi cho tôi một bài viết cắt ra từ cột hướng dẫn tin kính Daily Bread. Bài viết yêu cầu độc giả tưởng tượng du lịch sang Paris rồi đứng trước bức họa Mona Lisa nổi tiếng của Leonardo da Vinci. "Quí vị có nghĩ tới việc cầm lấy màu và cọ vẽ chạm tới bức tranh không? Có thể tô một chút màu lên hai gò má của nàng không? Có lẽ nên thay đổi một ít nơi sóng mũi của nàng?" Quí vị nói: "Làm thế lố bịch quá!" "Trong gần 500 năm bức tranh Mona Lisa đã được xem là một trong những công tác nghệ thuật lỗi lạc nhất của mọi thời đại. Quả là lố bịch dường bao khi nghĩ chúng ta có thể thêm một điều gì đó vào kiệt tác nầy". Tuy nhiên, đấy là những gì chúng ta làm khi chúng ta cố gắng thêm vào kiệt tác của Đức Chúa Trời, là sự cứu rỗi bởi thập tự giá của Đấng Christ. Họ nghĩ họ phải cải thiện luôn với loại cọ màu sức riêng của chính họ. Quí vị không thể kiếm được ơn cứu rỗi ấy. Quí vị không thể thêm gì vào ơn ấy. Quí vị chỉ phải tiếp nhận ơn ấy mà thôi.

Chủ Nhật, 27 tháng 2, 2011

Galati 3.1-5: "Thiên về với luật pháp & Tấn tới về mặt thuộc linh"

Tự do thực – Galati
Thiên về với luật pháp & Tấn tới về mặt thuộc linh
Galati 3.1-5
David Letterman có danh sách ưu tiên Top Ten mỗi buổi tối. Một người bạn Mục sư mới đây đã gửi cho tôi quyển Bảy Dấu Hiệu Mục sư của bạn đang cần một kỳ nghỉ.
7. Lời nói đầu tiên ông dành cho hội chúng là "Được thôi, hãy nghe đây, hỡi những người theo tà giáo..."
6. Ông ngủ gà ngủ gật trong khi rao giảng.
5. Ông mặc short dự buổi thờ phượng Chúa nhựt .
4. Mỗi lần máy nhắn tin của ông hết pin, ông hô lên: "Sao họ không để cho tôi yên?"
3. Tuyên bố buổi thờ phượng có lễ báptêm sẽ tổ chức tại Thác Grand.
2. Quí vị đến tại văn phòng của ông để hỏi thăm rồi dốc đỗ tấm lòng ra với ông, khi ấy ông nói: "Nghe như một vấn đề riêng tư đem đến cho tôi vậy!?!"
VÀ DẤU SỐ 1 MỤC SƯ CỦA BẠN ĐANG CẦN MỘT KỲ NGHỈ. Trong sáu tuần lễ qua, ông đã rao giảng cùng một bài mỗi Chúa nhựt!
Chẳng có gì phải nghi ngại khi tôi sử dụng một kỳ nghỉ, nhưng chỉ khi nào tôi giảng cùng một bài trong sáu tuần vừa qua! Sở dĩ như vậy là vì trong phân đoạn nầy của sách Galati, Phaolô đã nhứt quyết rung lên một tiếng chuông. Ông đã gõ một tiếng trống. Ông đang có một lý thuyết bất biến, không thay đổi. Chúng ta đã được cứu bởi ân điển chớ không phải bởi việc làm. Chúng ta đã được xưng công bình, được hoà thuận lại với Đức Chúa Trời bởi tin chớ không phải bởi thành tựu.
Khi Phaolô thiết lập các Hội thánh trong xứ Galati, ông đã dạy cho họ biết về ân điển của Đức Chúa Trời, là sự ưu ái dành cho kẻ không xứng đáng, là tình yêu vô điều kiện dành cho họ. Ông dạy cho họ biết rằng: "Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết" (Rôma 5.8). Tuy nhiên, về sau có một số giáo sư giả người Do thái đã mời những người theo giáo Giu-đa vào trong các Hội thánh rồi dạy dỗ cho các con trẻ Cơ đốc nầy rằng họ cần phải thêm phép cắt bì và luật pháp Cựu Ước vào đức tin của họ nơi Chúa Jêsus. Sự dạy ấy được gọi là thiên về với luật pháp, cố gắng làm đẹp lòng Đức Chúa Trời bằng cách tuân giữ các quy tắc và điều lệ.
Đừng hiểu lầm nhé! Chúng ta cần các quy tắc. Không có các quy tắc, xã hội sẽ rơi vào chỗ hỗn loạn. Thậm chí chúng ta còn cần các quy tắc trong Hội thánh hoặc giả chúng ta sẽ giống như Israel, ở đó "ai nấy đều làm theo mắt mình cho là phải". Quy tắc của chúng ta trong Hội thánh nầy là phải vâng phục như có thể được đối với Kinh Thánh, là Lời thành văn của Đức Chúa Trời.
Thiên về với luật pháp không phải là tuân giữ các điều luật; thay vì thế, thiên về với luật pháp là một thái độ sai lầm về việc tuân giữ các quy tắc. Thiên về với luật pháp tôn cao bản ngã, xét đoán tha nhân mọi sự ở bề ngoài. Thiên về với luật pháp tôn cao các quy tắc hơn là sự khôn ngoan và sự phân biện.
Cho phép tôi đưa ra cho quí vị thấy một vài trường hợp dại dột của một số luật lệ trong xứ của chúng ta. "Những cô thiếu nữ không hề được phép đi dây căng ở Wheeler, Mississippi, trừ phi được phép làm chuyện ấy ở một nhà thờ. Tại Blackwater, Kentucky, dùng khăn cọ dưới cằm của một phụ nữ trong khi bà ta ngồi trong nhà thờ dự buổi thờ phượng sẽ lãnh án phạt 10$US và ở một ngày tù. Không ai ăn đậu phộng rang chưa lột vỏ khi đang ngồi trong nhà thờ ở Idanha, Oregon. Tại Honey Creek, Iowa, chẳng có người nào được phép mang súng cao su vào nhà thờ trừ viên cảnh sát. Không một cư dân nào ở Leecreek, Arkansas, được phép dự nhóm ở nhà thờ với bộ y phục màu đỏ. Nhảy múa yo-yo trong nhà thờ hay bất cứ đâu công cộng vào ngày sabát đều bị cấm ở Studley, Virginia. Sắc tộc Turtle không được phép có mặt trong vòng 150 mét ở một nhà thờ địa phương vào bất cứ lúc nào ở Slaughter, Louisiana".
Vị sứ đồ đã dạy dỗ chúng ta nhiều lần rằng chúng ta không thể làm hoà lại với Đức Chúa Trời bằng cách tuân giữ những luật lệ. Chúng ta không được cứu do sống nhơn đức vì chẳng một ai trong chúng ta là nhơn đức cả, chẳng một ai. Kinh Thánh phán rất rõ ràng: "Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình" (Êphêsô 2.8-9). Chúng ta không thể được cứu do thiên về với luật pháp.
Tôi nghĩ hầu hết những người thành Galati đều biết rõ họ được cứu là do ân điển chớ chẳng phải bởi thiên về với luật pháp. Tuy nhiên, dường như họ bị lay động bởi sự dạy giả dối cho rằng muốn giữ lấy sự cứu rỗi và lên tới một cấp độ mới với Đức Chúa Trời họ phải tuân giữ hết thảy các quy tắc và điều lệ. Họ không mua ƠN CỨU RỖI bởi thiên về với luật pháp, mà họ bị xiềng xích trong SỰ NÊN THÁNH do thiên về với luật pháp. Câu 3 là lẽ đạo của phân đoạn nầy: "Sao anh em ngu muội dường ấy? Sau khi đã khởi sự nhờ Đức Thánh Linh, nay sao lại cậy xác thịt mà làm cho trọn?"
Nên thánh là một thuật ngữ của thần học, của Hội thánh với một ý nghĩa rất đơn giãn. Từ nầy có ý nói tới những gì Đức Chúa Trời hiện đang làm trong đời sống của quí vị sau khi được cứu. Từ giây phút quí vị được sanh lại, Đức Chúa Trời đã bắt tay hành động trong đời sống của quí vị, làm cho quí vị được tấn tới về mặt thuộc linh, biến đổi quí vị ra giống theo ảnh tượng của Đấng Christ. Nên thánh là tiến trình của sự trưởng thành thuộc linh.
Tôi e rằng nếu có ai trong quí vị tin mình có thể được cứu bởi việc làm hay bởi thiên về với luật pháp. Tuy nhiên, tôi ngại nhiều người trong chúng ta đang ra sức để được nên thánh hay đạt tới sự tấn tới thuộc linh bằng cách tuân giữ các quy tắc. Nên thánh bởi thiên về với luật pháp không giữ quí vị ở ngoài thiên đàng, nhưng chắc chắn nó sẽ cướp khỏi quí vị niềm vui mừng, bình an và ơn phước mà Đức Chúa Trời đã chất chứa dành cho quí vị.
Các tín hữu thường dễ bị làm mồi sa vào bẫy thiên về với luật pháp. Hôm nay chúng ta sẽ khởi sự bằng cách xác định 5 lý do tại sao có nhiều Cơ đốc nhân đang sinh sống trong chỗ thiên về với luật pháp, rồi từ đó chúng ta sẽ khám phá 5 lý do tại sao chúng ta không sống theo kiểu thiên về với luật pháp và sau cùng chúng ta sẽ tiếp thu làm thế nào để tránh thoát cái bẫy thiên về với luật pháp đó.
I. Tại sao Cơ đốc nhân sống theo kiểu thiên về với luật pháp.
A. LÝ DO #1. Họ có một quan điểm méo mó về Đức Chúa Trời.
Đức Chúa Trời của Kinh Thánh là một Đức Chúa Trời giàu ơn và là Cha yêu dấu. Ngài vốn chậm giận, mau tha thứ và dư dật ơn thương xót dành cho con cái Ngài. Ngài thấu suốt mọi thất bại, lỡ lầm và tội lỗi của chúng ta, và chủ ý tiếp nhận chúng ta như thuộc riêng về Ngài. Ngài xem chúng ta giống như hạng nô lệ đã được tự do, là con nuôi, và là nhánh nho của Ngài. Bởi ân điển Ngài mặc cho chúng ta chiếc áo choàng công bình của Con Ngài và đã xử lý tội lỗi của chúng ta một lần đủ cả trên thập tự giá ở đồi Gôgôtha. Ngài di dời mọi tội của chúng ta ra thật xa giống như phương đông xa cách phương tây, rồi chôn chúng trong những chỗ sâu thẳm của đại dương. Ngài chẳng còn nhớ đến chúng nữa. Đức Chúa Trời luôn luôn xử lý với chúng ta bằng ân điển.
Trong khi hầu hết chúng ta sẽ tuyệt đối nhất trí với mấy câu nói nầy, chúng ta có khuynh hướng áp dụng chúng vào SỰ CỨU RỖI chớ không áp dụng vào SỰ NÊN THÁNH. Chúng ta đồng ý rằng Đức Chúa Trời quan phòng chúng ta theo các phương thức nầy, nhưng về mặt thực tế chúng ta phải luôn làm việc để làm đẹp lòng Ngài. Đó là thiên về với luật pháp.
Một số người trong chúng ta xem Đức Chúa Trời giống như VIÊN CẢNH SÁT GIAO THÔNG vậy. Ngài luôn luôn quan phòng chúng ta với khẩu súng radar thánh khiết của Ngài. Bao lâu chúng ta vâng theo các quy tắc, Ngài càng ít chú ý tới chúng ta luôn. Tuy nhiên, hãy tìm cách vượt qua đèn vàng xem, hãy chạy từ 70 dặm/giờ so với 60 dặm/giờ được phép hoặc đậu xe trong một chỗ cấm, Ngài sẽ phạt vạ quí vị từng lúc như thế cho xem. Cơ đốc nhân với quan điểm như thế nầy về Đức Chúa Trời đang sống trong nỗi sợ hãi.
Các tín đồ khác xem Đức Chúa Trời là một NGƯỜI CHA RẤT BẠO NGƯỢC. Ngài luôn luôn quan phòng trên hai bờ vai của chúng ta, chăm chút từng góc cạnh đời sống của chúng ta. Ngài không tin chúng ta biết đưa ra những quyết định đúng đắn hoặc biết tập luyện sự phân biệt và khôn ngoan. Ngài có một quy tắc cho từng trạng huống.
Vẫn còn có nhiều người khác nữa xem Đức Chúa Trời là ĐẤNG GIỮ THÀNH TÍCH. Ngài đang ghi chép từng chút trên mọi sự. Ngày kia Ngài sẽ bày ra hết thảy mọi tội lỗi và sai sót của chúng ta trên một màn hình khỗng lồ cho mọi người đều xem thấy. Ngài giữ các bảng thành tích chi tiết ghi chép từng lỗi một, từng điều dại dột, từng sai lầm một.
Quan điểm như thế nầy về Đức Chúa Trời có thể được thấy rất rõ ràng trong các khúc hát của thiếu nhi: "Ôi hãy cẩn thận về điều đôi mắt nhỏ bé của em đang nhìn thấy, ôi hãy cẩn thận về những gì tai em nghe, ôi hãy cẩn thận về nơi mà bàn chân nhỏ của em đi qua, vì Cha trên trời cao kia đang nhìn xuống với lòng yêu thương, ôi hãy cẩn thận…" Tôi nghi có nhiều em thiếu nhi đã học biết về tình yêu thương của Đức Chúa Trời qua bài hát ngắn nầy, nhưng chúng chắc đã học biết rằng Ngài là một Đấng chuyên giữ thành tích.
Nếu chúng ta làm méo mó quan điểm của Kinh Thánh về Đức Chúa Trời thành quan điểm của một cảnh sát giao thông, của người cha bạo lực hay Đấng chuyên giữ thành tích, thì chẳng có gì là lạ cả, chúng ta đang sống trong nỗi sợ của sự thiên về với luật pháp đến nỗi chúng ta sẽ vi phạm một trong các quy tắc của Ngài rồi đưa thân mình vào sự phán xét. Tuy nhiên, đây là quan điểm không đúng đắn về Đức Chúa Trời.
B. LÝ DO #2. Họ xem ân điển là một thứ áng ngữ đối với sự vâng phục.
Quí vị có bao giờ sử dụng một vật áng ngữ chưa? Một số tín hữu xem ân điển của Đức Chúa Trời chẳng là gì hết, trừ ra một công cụ Đức Chúa Trời sử dụng để áng ngữ không cho họ bước vào sự vâng phục. Họ xem ân điển không phải là một yếu tố không đổi của Đức Chúa Trời mà là một công cụ Ngài sử dụng để nắn đúc chúng ta.
Họ xem Đức Chúa Trời như đang phán: "Hãy nhìn xem mọi sự ta đã làm cho ngươi. Ta đã cứu ngươi. Ta đã tha thứ cho ngươi. Ta đã chịu chết trên thập tự giá vì nhiều tội lỗi của ngươi. Ngươi làm điều chi cho ta? Ngươi là kẻ vô ơn. Há ngươi có biết ơn sao? Ngươi phải biết xấu hổ chứ? Bây giờ hãy đứng dậy mà nhìn biết điều đó!" Mặc dù suy nghĩ tới Đức Chúa Trời theo cách nầy sẽ tác động chúng ta làm theo điều chi là đúng đắn, nó di dời ân điển thật ra khỏi đời sống của chúng ta và làm cho chúng ta co cụm lại thành hạng người tuân giữ quy tắc thiên về với luật pháp.
C. LÝ DO #3. Họ tin Đức Chúa Trời tiếp nhận chúng ta trên cơ sở thành tích.
Có nhiều người được bố mẹ nuôi dạy, họ lập trình cho con cái họ tin rằng sự tiếp nhận dựa trên thành tích, thậm chí trên sự trọn vẹn nữa. Họ được sắp đặt cho phải tin rằng nếu họ đạt được các cấp độ tốt, một mức trung bình khả thi hay ngồi ghế thứ nhứt trong đội, thì bố mẹ sẽ tiếp nhận và yêu thương chúng. Giá trị cái tôi của chúng được ràng buộc với thành tích của chúng.
Không may thay, họ lại nhìn xem Đức Chúa Trời theo cùng một cách đó. Họ phấn đấu để làm tốt nhiều việc không nhắm vào việc đẹp lòng Đức Chúa Trời mà là lo sợ rằng nếu họ không làm được thì Đức Chúa Trời sẽ không tiếp nhận họ. Họ luôn luôn cảm thấy Đức Chúa Trời không đẹp lòng với sự họ thiếu trọn vẹn, vì vậy họ cứ làm nhiều thêm nữa. Đó là trọng tâm của sự thiên về với luật pháp.
D. LÝ DO #4. Họ đã có hình thức thiên về với luật pháp lập nền sẵn trong họ.
Tôi lớn lên trong một Hội thánh chắc chắn là thiên về với luật pháp. Tôi được dạy dỗ rằng được cứu là bởi ân điển, nhưng không lâu sau đó một người khi được cứu họ phải bắt tay vào làm việc cho Đức Chúa Trời. Thực vậy, người ta dạy tôi rằng được cứu bởi ân điển, còn nên thánh (sự trưởng thành thuộc linh) là bởi việc làm.
Tôi là một người lớn trước khi tôi nhận ra rằng Đức Chúa Trời tiếp nhận tôi bằng khoảng thời gian ân điển. Sự cứu rỗi, sự nên thánh, sự vinh hiển… hết thảy đều bởi ân điển chớ không phải bởi việc làm. Tôi đã bước vào chức vụ trọn thời gian trước khi tôi đạt tới mức hiểu biết Đức Chúa Trời yêu thương tôi và tiếp nhận tôi một cách trọn vẹn. Ngài không hề yêu thương tôi nhiều hơn và chẳng hề yêu thương tôi ít hơn. Chẳng việc gì tôi làm hay không làm sẽ làm thay đổi mối giao thông của chúng tôi vì mối giao thông ấy hoàn toàn dựa trên ân điển của Ngài chớ không dựa vào thành tích của tôi.
Tôi phải sống thành thực. Thiên về với luật pháp lập nền trong tôi đến nỗi tôi vẫn phấn đấu để làm đẹp lòng Đức Chúa Trời trong khi về lý trí tôi biết Ngài đã đẹp lòng rồi với tôi, vì tôi đã khoác chiếc áo công bình của Con Ngài.
E. LÝ DO #5. Thiên về với luật pháp dường như thuộc linh lắm.
Cơ đốc nhân thiên về với luật pháp dường như sống như thế cả. Họ sống kỹ luật và không thoả hiệp. Họ bền đỗ nhóm lại tại nhà thờ, đem Kinh Thánh theo khi đi làm hay đi học. Họ không hút thuốc, uống rượu, chửi thề và không làm hàng tỉ điều khác. Thắc mắc là: tại sao họ không làm những việc nầy? Động lực nằm ở hàng tận cùng.
Có phải quí vị tránh né những cách xử sự nhất định nào đó vì sợ người ta nói hay vì tình cảm quí vị dành cho Đức Chúa Trời? Một số Cơ đốc nhân có thể không hút thuốc hay uống rượu nhưng họ có thèm muốn và tham lam ở trong lòng không? Tội lỗi nào là tệ hại nhất? Người thiên về với luật pháp có thể trông giống như Ông Trưởng Thành ở bề ngoài, song ở bề trong người có thể sống xa cách Đức Chúa Trời lắm. Thiên về với luật pháp là hình thức dối gạt vì người ta sử dụng nó để ngụy trang thực sự họ là ai.
Có thể một hay nhiều hơn các trường hợp nầy rất thích ứng với quí vị. Tôi dám chắc phần nhiều người trong chúng ta vẫn còn đang phấn đấu với các vấn đề nầy khi chúng ta xem nhẹ ân điển của Đức Chúa Trời. Chúng ta hãy tra xét phân đoạn Kinh Thánh và nhìn xem lý do tại sao thiên về với luật pháp là một cuộc phấn đấu vô mục đích, hư không.
II. Tại sao Cơ đốc nhân không sống theo kiểu thiên về với luật pháp.
A. LÝ DO #1. Sống theo kiểu thiên về với luật pháp là lối sống dại dột (câu 1a).
Phaolô bắt đầu tiểu đoạn nầy bằng cách gào lên: "Hỡi người Galati ngu muội kia". "Ngu muội" ra từ một chữ có nghĩa là "không làm chủ được lý trí". J.B. Phillips lấy theo định nghĩa nầy trong bản dịch của ông: "Hỡi người Galati dại dột kia… chắc chắn anh em không thể dại dột như thế được". Từ Hy lạp không nói tới người nào đó thực sự là khờ dại, ngốc nghếch, mà nói tới những kẻ bất chấp lẽ thật. Chúng ta thường dùng từ “dại dột” (idiot) không nói tới kẻ không có khả năng tiếp thu, mà rõ ràng nói tới kẻ không phải là dại dột mà có hành vi giống như kẻ dại dột vậy.
Tại sao Phaolô nói họ đang hành động giống như hạng dại dột chứ? Vì có những kẻ khác “đã bỏ bùa ếm” họ. Họ đã để cho các giáo sư giả "bùa ếm" họ. Các Cơ đốc nhân Hy lạp xuất thân từ một lai lịch tà giáo thuộc linh. Họ quá quen thuộc với các thuật sĩ, họ có thể bỏ bùa mê trên ai đó. Họ đang hành động giống như các thây ma sống lại nhờ vào bùa phép, không có lý trí, những người máy thuộc linh với các kẻ theo giáo Giu-đa đang nắm lấy quyền điều động. Phaolô nói cho họ biết họ đã để cho các giáo sư giả bùa ếm họ, vì vậy giờ đây họ đang chối bỏ mọi điều họ biết rất thực về ân điển của Đức Chúa Trời.
Khi một Cơ đốc nhân tin cậy vào các việc lành thiên về với luật pháp của bản thân mình để làm đẹp lòng Đức Chúa Trời thay vì tin cậy vào ân điển của Đức Chúa Trời, người ấy đang đóng vai kẻ dại và đang hành động, nói theo từ ngữ của Phaolô, giống như một kẻ dại dột vậy.
B. LÝ DO #2. Sống theo kiểu thiên về với luật pháp là bất chấp thập tự giá (câu 1b).
Phaolô nói họ "không vâng theo lẽ thật" và đã nhắc cho họ nhớ trước khi họ trở thành những người máy như thế họ đã được rõ bày ra: "Đức Chúa Jêsus Christ đã bị đóng đinh trên thập tự giá".
"Rõ bày ra" ra từ chữ prographo, một từ ngữ thường mô tả việc dán các bản yết thị quan trọng ở nơi công cộng. Phaolô đang nói: "Tôi đã nói cho anh em từng chi tiết về sự Chúa Jêsus chịu chết một cái chết rất đau thương trên thập tự giá để trả giá cho tội lỗi của anh em. Giống như tôi đã dán điều đó lên mấy tấm bảng quảng cáo lớn trên các thành phố của anh em vậy". Sự đóng đinh trên thập tự giá là sứ điệp chính của Phaolô. Ông đã nói trong I Côrinhtô: "Vì tôi đã định chẳng biết một việc gì khác ngoài việc Đức Chúa Jêsus Christ và Ngài đã bị đóng đinh trên thập tự giá". Nói cách khác, quí vị không phải sống nhơn đức hầu trang điểm cho tội lỗi của quí vị được, Chúa Jêsus đã trả giá cho chúng rồi, cả quá khứ, hiện tại và tương lai. Quí vị chỉ tin mà thôi. Hãy nhớ 2.21: "vì nếu bởi luật pháp mà được sự công bình, thì Đấng Christ chịu chết là vô ích".
Stott đã viết: "Sức mạnh của thì hoàn thành trong cấu trúc văn phạm của câu nói, ấy là công tác của Đấng Christ đã được hoàn tất trên thập tự giá, và mọi tiện ích của sự Ngài chịu đóng đinh trên thập tự giá mãi mãi tươi mới, có hiệu lực và đang sẵn có. Hạng tội nhân sẽ được xưng công bình trước mặt Đức Chúa Trời và bởi Đức Chúa Trời, không phải vì bất cứ việc làm nào của riêng họ, mà vì công tác cứu chuộc của Đấng Christ; không phải vì điều chi họ đã làm hay có thể làm, mà vì mọi điều Đấng Christ đã làm một lần đủ cả, khi Ngài chịu chết. Tin lành không phải là một lời khuyên tốt cho con người đâu, mà là những tin tức tốt lành nói tới Đấng Christ; không phải một lời mời gọi dành cho chúng ta làm theo một điều gì đó, mà là một lời công bố ra mọi điều mà Đức Chúa Trời đã làm; không phải một đòi hỏi, mà là một sự cung hiến".
C. LÝ DO #3. Sống theo kiểu thiên về với luật pháp là đi ngược lại với Đức Thánh Linh (các câu 2-3).
Vị sứ đồ nói: "Tôi muốn học biết từ anh em chỉ có điều nầy" hay "Tôi chỉ có một câu hỏi". Ông nói: "Ấy là cậy các việc luật pháp hay là bởi nghe và tin mà anh em đã nhận được Đức Thánh Linh?"
Khi một người được cứu, được sanh lại, họ kinh nghiệm sự Đức Thánh Linh ngự vào lòng. Nếu quí vị chưa "nhận lãnh Đức Thánh Linh" thì quí vị chưa được cứu đâu. Rôma 8.9 chép: "song nếu ai không có Thánh Linh của Đấng Christ, thì người ấy chẳng thuộc về Ngài".
Phaolô biết rõ họ đã được cứu. Ông nhắc tới trong câu 5 thể nào Đức Thánh Linh đã làm ra "nhiều phép lạ" giữa vòng họ. Thắc mắc của ông là Họ đã nhận lãnh Đức Thánh Linh nhờ ân điển của Đức Chúa Trời hay họ kiếm được sự hiện diện của Ngài do các việc làm của họ? Tất nhiên câu trả lời là bởi ân điển, bởi "nghe và tin".
Trong câu 3, ông đi từ sự cứu rỗi sang sự nên thánh. Ông hỏi: "Sao anh em ngu muội dường ấy? Sau khi đã khởi sự nhờ Đức Thánh Linh, nay sao lại cậy xác thịt mà làm cho trọn?" Nói cách khác: "Nếu anh em không thể được cứu bởi các việc lành và không nhận lãnh Đức Thánh Linh bởi các việc lành, sao bây giờ anh em có thể tin rằng anh em sẽ được nên trọn vẹn hay được trưởng thành bằng cách nương vào khả năng riêng để sống nhơn đức chứ?" Chúng ta không đạt tới sự trưởng thành thuộc linh bằng cách tuân giữ các bảng danh sách những điều làm hay không làm theo. Chúng ta kiếm được sự trưởng thành thuộc linh bằng cách đầu phục theo Thánh Linh của Đức Chúa Trời. Đó là ân điển! Galati 5.16 chép: "Hãy bước đi theo Thánh Linh, chớ hề làm trọn những điều ưa muốn của xác thịt".
Thí dụ, tôi biết tôi cần đọc Kinh Thánh mỗi ngày. Có khi tôi đọc Kinh Thánh cách vội vàng, mau mau để còn lo làm việc khác. Khi nào tôi có thái độ ấy, tôi là một kẻ thiên về với luật pháp. Đức Chúa Trời chẳng có ấn tượng gì hết. Tôi chẳng tiếp thu được gì hết. Tôi chỉ mất thì giờ mà thôi. Tuy nhiên, khi tôi nói: "Đức Thánh Linh mở mắt tôi nhìn biết lẽ thật, xin dạy dỗ tôi", khi tôi đọc thật cẩn thận, tôi luôn luôn tìm kiếm cốt lõi của chân lý để tôi có thể áp dụng vào đời sống tôi. Đấy là sự khác biệt giữa thiên về với luật pháp và bước đi theo Thánh Linh.
D. LÝ DO #4. Sống theo kiểu thiên về với luật pháp tạo ra sự bắt bớ vô mục đích (câu 4).
Phaolô nói trong câu 4: "Anh em há luống công mà chịu sự khốn khó dường ấy sao? nếu quả là luống công!" Các Cơ đốc nhân đầu tiên nầy đã chịu khốn khó vì cớ đức tin của họ. Họ đã bị bắt bớ đủ mọi phương diện. Tuy nhiên, sự bắt bớ tệ hại nhất đã đến từ những người Do thái, họ đã xem Cơ đốc giáo là một mối đe doạ đối với tôn giáo cổ xưa của họ. Phaolô đang nói rằng nếu họ bây giờ tìm cách sống giống như người Do thái (phép cắt bì, luật pháp, các nghi thức) thì đâu là mục tiêu cho việc hứng chịu sự bắt bớ, đúng là "luống công".
Có bao giờ quí vị bị bắt bớ vì là một Cơ đốc nhân chưa? Có phải ở trường học hay ở sở làm người ta đã chế giễu quí vị vì cớ đức tin của quí vị chưa? Nếu quí vị đang sống theo kiểu thiên về với luật pháp thì quí vị chưa tấn tới về mặt thuộc linh và mọi điều quí vị chịu khốn khó từ nơi họ quả là "luống công" rồi.
E. LÝ DO #5. Sống theo kiểu thiên về với luật pháp dập tắt Sự tấn tới về mặt thuộc linh (câu 5).
Trong câu 5, Phaolô chỉ ra hai ơn phước đến từ nơi Chúa. Đức Chúa Trời "ban Đức Thánh Linh cho anh em và làm các phép lạ trong anh em".
Câu 2 nói họ "[đã] nhận được Đức Thánh Linh" thì quá khứ. Câu 5 nói Đức Chúa Trời "ban Đức Thánh Linh [mặc lấy, phục vụ] Đức Thánh Linh cho anh em", thì hiện tại. Phaolô đã đi từ chỗ nói về sự Đức Thánh Linh ngự vào lòng một lần đủ cả, đến chỗ sự phục vụ của Đức Thánh Linh hết ngày nầy sang ngày khác trong đời sống của chúng ta.
Nếu quí vị là một người tin Chúa chân chính, quí vị đang ý thức công việc của Đức Thánh Linh, Ngài hướng dẫn, dạy dỗ, yên ủi quí vị, v.v….Có nhiều lần trong đời sống chúng ta Đức Thánh Linh vận hành bằng quyền phép vô đối. Ngài phán dạy với lòng chúng ta. Ngài khiến chúng ta làm theo một số việc mà chúng ta không thể làm bằng sức riêng của mình. Phaolô muốn biết, có phải Đức Thánh Linh đang vận hành trong đời sống của quí vị vì quí vị đang thực thi "công việc của luật pháp" hay bởi "nghe và tin?"
Đức Chúa Trời cũng "làm ra nhiều phép lạ". Có người cho rằng chẳng có phép lạ chi hết hôm nay. Tôi không nhất trí về điều đó. Chúng ta không có dấu kỳ phép lạ hôm nay, nhưng tôi tin đây là một sự sĩ nhục Đức Chúa Trời khi nói Ngài không làm ra các phép lạ. Phép lạ lớn lao nhứt từng diễn ra, ấy là khi có ai đó được cứu, một tội nhân trở thành một thánh nhân.
Tôi nghĩ tới những thời điểm trong Hội thánh chúng tôi khi có người đau bịnh. Chúng tôi đã cầu thay cho họ, cầu xin Đức Chúa Trời thực thi ý chỉ của Ngài trong đời sống của họ. Chúng ta đã cầu xin Chúa chữa lành bằng phép lạ. Có người không được chữa lành. Có người được chữa lành. Phải chăng họ được chữa lành vì đã tin hay thành tựu?
Một số người trong quí vị đã nhìn thấy Đức Chúa Trời đáp lời cầu nguyện theo một cách thức đáng kinh ngạc. Quí vị nhìn thấy Đức Chúa Trời làm thay đổi mọi sự. Phải chăng điều nầy xảy ra bởi ân điển hay vì quí vị tuân giữ một bảng danh sách những việc cần làm theo và không làm theo?
Khi chúng ta "bước đi bởi Thánh Linh" chúng ta tin cậy Đức Chúa Trời và dâng vinh hiển cho Đức Chúa Trời khi Ngài vận hành cách mạnh mẽ trong đời sống của chúng ta. Khi chúng ta ăn ở theo kiểu thiên về với luật pháp, chúng ta nhìn thấy mọi ơn phước của Đức Chúa Trời như một kết quả của sự chúng ta trung tín và tai hoạ như một kết quả của sự chúng ta bất trung. Khi thiên về với luật pháp, mọi sự đều nương vào tôi hết. Khi bước đi theo Thánh Linh, mọi sự đều nương vào Đức Chúa Trời.
III. Làm sao Cơ đốc nhân thắng hơn sự thiên về với luật pháp.
A. Chúng ta cần một hình ảnh đúng đắn về Đức Chúa Trời.
Đức Chúa Trời là một Đức Chúa Trời giàu ơn. Ân điển của Ngài đối cùng chúng ta không những ở sự cứu rỗi trong quá khứ hay sự vinh hiển trong tương lai, mà còn ngay bây giờ ở sự nên thánh trong hiện tại. Ngài luôn luôn xử lý với con cái Ngài bằng ân điển. Cơn thạnh nộ của Ngài đã được dành riêng cho những ai từ chối Con của Ngài. Ngài tiếp nhận chúng ta khi chúng ta làm điều chi phải lẽ và khi chúng ta phạm điều chi sai lầm. Ngài không ném ân điển của Ngài vào mặt chúng ta hay tìm cách làm xấu hổ chúng ta khi chúng ta không vâng lời. Ngài yêu thương chúng ta. Ngài yêu thương chúng ta cách tuyệt đối.
Tôi không nói rằng Đức Chúa Trời đang dung chịu tội lỗi đâu. Ngài thù ghét tội lỗi nơi kẻ không tin Chúa và nơi người tin Chúa. Tôi thích cách Elisa Morgan thổ lộ điều đó: "Đức Chúa Trời, là Đấng nhìn thấy chúng ta trong những giờ phút tệ hại nhất, nhưng không dùng chúng mà tính toán với chúng ta". Ân điển của Ngài là đủ cho tội lỗi chúng ta. Trong khi Ngài thù ghét tội lỗi trong đời sống chúng ta, Ngài yêu thương chúng ta.
B. Chúng ta cần một sự hiểu biết chính xác về ân điển.
Tôi dám chắc rằng chẳng có một từ ngữ nào đẹp đẽ trong bất kỳ một thứ ngôn ngữ nào hơn là từ "ân điển". Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta và chúc phước cho chúng ta cho dù chúng ta không xứng đáng với tình yêu hay ơn phước của Ngài. Ngài lựa chọn chúng ta từ trước khi sáng thế. Ngài kêu gọi chúng ta đến với chính mình Ngài. Ngài xưng công bình chúng ta, tuyên bố chúng ta là ngay thẳng. Ngài đang bắt tay làm nên thánh chúng ta, khiến cho chúng ta được thánh khiết. Ngài sẽ làm cho chúng ta được vinh hiển không bao lâu nữa, một ngày gần đây. Mọi sự đều quy về cho ân điển. Chúng ta không kiếm được một tí gì về ân điển đó.
Kẻ thiên về với luật pháp làm theo bảng danh sách những việc làm theo và không làm theo hầu được Đức Chúa Trời tiếp nhận và tránh được sự phán xét của Ngài. Người tín đồ thuộc linh nào hiểu rõ ân điển làm hay không làm vì người yêu mến Đấng Christ và có lòng quan tâm muốn làm chứng cho Ngài. Người hiểu rõ thậm chí khi người vấp ngã, Đức Chúa Trời luôn luôn đặt người vào trong cái tổ của ân điển.
Tuần lễ nầy, Chúa chỉ cho tôi thấy một phân đoạn Kinh Thánh bày tỏ ra chính lẽ thật nầy. I Têsalônica 5.23-24 chép: "Nguyền xin chính Đức Chúa Trời bình an khiến anh em nên thánh trọn vẹn, và nguyền xin tâm thần, linh hồn, và thân thể của anh em đều được giữ vẹn, không chỗ trách được, khi Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta đến! Đấng đã gọi anh em là thành tín, chính Ngài sẽ làm việc đó". Tôi không tự mình làm nên thánh được, Cha thành tín của tôi ở trên trời sẽ làm việc ấy!
Một chiếc tàu bị đắm, và kẻ sống sót duy nhứt bơi đến một hòn đảo nhỏ không có ai ở. Ông ta bị kiệt sức. Ông ta cầu xin Đức Chúa Trời cứu ông ta. Mỗi ngày ông ta nhìn chăm chú vào đường chân trời, tìm kiếm sự cứu giúp. Sau cùng, ông ta dựng lên một túp lều rồi đặt một số đồ vật nhỏ vào đấy. Ngày kia, sau khi đi săn tìm thức ăn rồi trở về nhà, ông ta lấy làm đau đớn khi nhìn thấy túp lều nhỏ đang bốc cháy và một cột khói bốc cao lên. Chuyện tệ hại nhất đã xảy ra. Nhưng qua sáng sớm ngày hôm sau, một nhóm thủy thủ đến và giải cứu ông ta. Ông ta hỏi nhóm thủy thủ đó: "Làm sao các anh biết tôi ở tại hòn đảo đó chứ?" Họ đáp: "Chúng tôi đã nhìn thấy cột khói dấu hiệu". Chúng ta hãy cầu xin Đức Chúa Trời đốt bỏ các túp lều thiên về với luật pháp của chúng ta hầu cho chúng ta được giải cứu bởi ân điển của Ngài.

Thứ Sáu, 25 tháng 2, 2011

Galati 2.15-21: "Thực chất của sự xưng công bình"


Tự do thực – Galati
Thực chất của sự xưng công bình

Galati 2.15-21
Katie 3 tuổi bị đưa đến Bác sĩ Nhi khoa trong đợt cúm mới đây. Khi bác sĩ xem xét hai lỗ tai của nó, ông hỏi: "Thế nào Bác sĩ cũng tìm được Con Chim Lớn ở đây cho xem?" Thật bức rức, Katie bèn đáp: "Không có đâu". Thế rồi, trước khi xem xét cổ họng của nó, ông hỏi: "Thế nào Bác sĩ cũng tìm thấy con quái vật Cookie ở đây cho xem?" Một lần nữa, "Không có đâu". Sau cùng, sau khi nghe tim của nó, ông hỏi: "Tôi sẽ tìm thấy Barney ở đây cho xem?" Với sự tin quyết mình không có gì hết, nó nhìn thẳng vào mắt ông rồi nói: "Không, Chúa Jêsus đang ngự trong trái tim của con. Barney đang ở trên quần lót của con". Tôi không muốn biết cái gì đang có trên đồ lót của quí vị, nhưng tôi hy vọng rằng Chúa Jêsus đang ngự trong trái tim của quí vị!
Khi có Chúa Jêsus ngự trong tấm lòng của quí vị, sau khi làm hoà lại với Đức Chúa Trời, mới là vấn đề quan trọng nhất trong cuộc sống. Kinh Thánh gọi điều nầy là XƯNG CÔNG BÌNH. Chúng ta dành một phút để xử lý về thần học. Sự thực cho thấy là nếu tôi làm hoà lại với Đức Chúa Trời, tôi có thể sống phải lẽ với vợ con của tôi. Nếu tôi làm hoà lại với Đức Chúa Trời, tôi có thể sống hài hoà với người ta trong sở làm và trong Hội thánh của tôi. Nếu tôi làm hoà lại với Đức Chúa Trời, tôi có thể sống hiệp nghi với tài chính và của cải của tôi. Tôi làm hoà lại với Đức Chúa Trời, tôi có thể vận dụng bất cứ thứ gì mà cuộc sống trao cho tôi.
Làm hoà lại với Đức Chúa Trời rồi, điều nầy dẫn tới việc có mối giao thông phải lẽ với Con Ngài, là Đức Chúa Jêsus Christ. Sách Galati nói tới SỰ XƯNG CÔNG BÌNH, là con đường đúng đắn để làm hoà lại với Đức Chúa Trời. Sứ đồ Phaolô đã giúp thiết lập ít nhất bốn Hội thánh trong khu vực Galati. Sau khi ông lìa khỏi họ, các giáo sư giả luồn lách vào trong rồi khởi sự vặn cong, bóp méo Tin lành. Họ dạy rằng muốn hoà thuận lại với Đức Chúa Trời, không những quí vị phải đặt lòng tin cậy nơi Đấng Christ, mà quí vị còn phải chịu phép cắt bì và tuân giữ luật pháp Cựu Ước nữa.
Phaolô đã giải thích rồi, thể nào ông đã đem Tít, một Cơ đốc nhân không chịu phép cắt bì lên thành Jerusalem và bàn bạc với các sứ đồ khác và từ nơi họ Tít "không bị ép phải chịu cắt bì" (câu 3). Nói cách khác, hết thảy các sứ đồ đều đồng ý rằng phép cắt bì không cần thiết để được cứu rỗi.
Tuần qua chúng ta học biết rằng Phierơ đã "đến tại An-ti-ốt", Phaolô và Banaba đã giảng đạo tại đó. Lúc đầu ông còn ngồi "ăn với người Ngoại", nghĩa là ông không theo luật lệ ăn uống của người Do thái trong Cựu Ước. Tuy nhiên, khi có "những người do Giacơ sai đến", là các Cơ đốc nhân người Do thái, Phierơ đã đạo đức giả "lui" khỏi các tín đồ dân Ngoại và thực thi lại các luật ăn uống theo Cựu Ước.
Phaolô lấy làm lạ nơi Phierơ. Ông nói trong câu 11: "Tôi có ngăn can trước mặt người, vì là đáng trách lắm". Tại sao Phaolô lại ngăn can như thế chứ? Vì sự giả hình của Phierơ đã khiến cho các Cơ đốc nhân dân Ngoại nghĩ rằng muốn làm hoà lại với Đức Chúa Trời, họ cần có một đôi điều nữa khác hơn là chỉ có đức tin nơi Chúa Jêsus. Phierơ đã khiến cho họ nghĩ rằng họ cần phải thêm việc tuân giữ luật pháp vào đức tin của họ thì mới được cứu rỗi.
Phaolô đã không gặp Phierơ theo cách riêng. Khi ông nhìn thấy Phierơ không đi "ngay thẳng theo lẽ thật của Tin lành", ông nói với Phierơ "trước mặt mọi người" (câu 14). Ông đã đứng chân đối chân, mắt đối mắt với Phierơ mà ngăn can ông ấy!
Tuần qua chúng ta đã thấy điểm sai lầm mà Phierơ đã phạm phải. Tuần lễ nầy chúng ta sẽ học biết lý do tại sao Phierơ lại sai lầm như vậy. Trong khi Phierơ tin Tin lành theo nguyên tắc, ông đã vi phạm về cách thực hành. Phaolô nói với Phierơ và về sau viết thư cho người thành Galati rằng chúng ta được XƯNG CÔNG BÌNH bởi đức tin nơi Chúa Jêsus, chớ không phải bởi tuân giữ luật pháp.
I. NHU CẦN quan trọng nhất của chúng ta là làm hoà lại với Đức Chúa Trời (các câu 15-16).
A. Hết thảy chúng ta đều là tội nhân.
Có hai sự kiện cơ bản mà chúng ta cần phải hiểu rõ. Thứ nhứt, Đức Chúa Trời là công bình hay thánh khiết. Thứ hai, chúng ta không công bình hay thánh khiết. Nếu Đức Chúa Trời là công bình và chúng ta không công bình, thế thì chúng ta chưa làm hoà lại với Đức Chúa Trời, ngược lại có điều chi đó sai trật giữa chúng ta. Kinh Thánh hỏi: "Bởi vì công bình với gian ác có hòa hiệp nhau được chăng?" (II Côrinhtô 6.14). Gióp 25.4 hỏi: "Làm sao loài người được công bình trước mặt Đức chúa Trời? Kẻ nào bị người nữ sanh ra, sao cho là trong sạch được?"
Phaolô nói với Phierơ trong câu 15: "Về phần chúng tôi, thì sanh ra là người Giu-đa” không phải là “kẻ có tội” như dân ngoại. Ông không có ý nói rằng người Do thái không phạm tội. Ông có ý nói họ biết rõ và giữ luật nghi thức của Cựu Ước và người Ngoại không giữ như vậy. Trong câu 17 ông nói: "Chính chúng tôi bị nhận là kẻ có tội".
Nói cách khác, chỉ vì người Do thái đã giữ luật ăn uống và chỉ ăn các thứ thức ăn chính đáng không có nghĩa là họ không phải là tội nhân. Việc tuân giữ các luật lệ kia không khiến họ làm hoà lại với Đức Chúa Trời.
Trong Êphêsô 2.1-3, ở đây mô tả tình trạng tự nhiên của mọi người, cả người Do thái và người dân Ngoại. Phaolô viết: "Còn anh em [dân Ngoại] đã chết vì lầm lỗi và tội ác mình, đều là những sự anh em xưa đã học đòi, theo thói quen đời nầy, vâng phục vua cầm quyền chốn không trung tức là thần hiện đang hành động trong các con bạn nghịch.…" Giờ đây hãy chú ý câu 3: "…Chúng ta [người Do thái] hết thảy cũng đều ở trong số ấy, trước kia sống theo tư dục xác thịt mình, làm trọn các sự ham mê của xác thịt và ý tưởng chúng ta, tự nhiên làm con của sự thạnh nộ, cũng như mọi người khác [giống như anh em là dân Ngoại]".
Rôma 3.10 chép: "Chẳng có một người công bình nào hết, dẫu một người cũng không". Dù quí vị là người Do thái chính thống lo tuân giữ luật pháp, hay là người dân Ngoại kia chẳng có hy vọng gì, không một ai trong chúng ta làm hoà lại với Đức Chúa Trời hết. Thực vậy, Rôma 3.23 chép: "Vì MỌI NGƯỜI đều đã phạm tội thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời". "Mọi người" có nghĩa là hết thảy! Người Do thái, người dân Ngoại, người nam, người nữ, con trai, con gái, Báptít, Trưởng Lão, Công giáo, Hồi giáo, Ấn độ giáo, Phật giáo v.v…MỌI NGƯỜI, những ai sống hay từng sống đều là tội nhân và chưa làm hoà lại với Đức Chúa Trời. Đây là lẽ thật khi Phaolô viết bức thư nầy gần 2000 năm qua và cũng rất thật cho hôm nay. Lẽ thật ấy rất thực về quí vị và tôi!
B. Hết thảy chúng ta cần được xưng công bình.
Hãy nhìn vào câu 16. Quí vị thấy có một cụm từ được lặp đi lặp lại ba lần trong câu nầy không? Cụm từ đó là gì vậy? Cụm từ đó là "được xưng công bình". Tôi biết cụm từ nầy là cụm từ nghe rất chuyên môn, nặng về thần học, và là thuật ngữ trong Hội thánh và quả nhiên là như vậy. Tuy nhiên, đây là một cụm từ quan trọng nhất mà chúng ta đã từng biết và quả đúng là một cụm từ mà chúng ta cần phải tìm hiểu.
"Được xưng công bình" là một cụm từ theo luật pháp được mượn từ toà án. Cụm từ nầy ngược lại với "bị xét đoán". Bị xét đoán là bị tuyên bố phạm tội. Còn “được xưng công bình” là được tuyên bố không phạm tội. Kinh Thánh sử dụng cụm từ nầy để mô tả những gì Đức Chúa Trời đã làm để khiến cho mọi sự ra phải lẽ giữa Ngài và chúng ta. "Được xưng công bình" trước mặt Đức Chúa Trời có nghĩa là Đức Chúa Trời không những đã tha thứ hay tuyên bố chúng ta trắng án, mà Ngài còn tiếp nhận chúng ta là công bình giống như Ngài là công bình vậy. Billy Graham mô tả rất đơn giản như sau: "Được xưng công bình có nghĩa là ngay thẳng giống như thể tôi chưa hề phạm tội vậy".
C. Chúng ta không thể được xưng công bình bởi luật pháp.
Phaolô nói trong câu 16 rằng cả ông và Phierơ đều đang hay đã "biết rằng người ta được xưng công bình, chẳng phải bởi các việc luật pháp đâu". Ông nói thêm ở cuối câu rằng: "vì chẳng có ai được xưng công bình bởi các việc luật pháp”. Nói cách khác, nếu quí vị nghĩ rằng Đức Chúa Trời sẽ tiếp nhận quí vị vì quí vị đọc kinh Cựu Ước và cố gắng giữ các luật lệ đó, quí vị đã sai rồi.
Có một số người đã tìm cách sống theo Cựu Ước. Tuy nhiên, có nhiều người nghĩ rằng Đức Chúa Trời tiếp nhận họ vì họ là “hạng người nhơn đức”. Ngay chính tuần lễ nầy, tôi đã đọc một trích luận từ nghệ sĩ nổi tiếng Sophia Loren: "Tôi không phải là một người chuyên nghiệp", bà nói, bà không phải là thuộc viên của tôn giáo có tổ chức: "nhưng tôi cầu nguyện. Tôi đọc Kinh Thánh. Đây là quyển sách hay nhất đã từng được viết ra. Tôi sẽ lên thiên đàng; còn nếu không thì chẳng hay ho gì hết. Tôi chẳng làm gì sai quấy. Lương tâm tôi trong sáng. Linh hồn tôi trắng như hoa phong lan treo ở đàng kia kìa, và tôi sẽ trực chỉ, trực chỉ đến thiên đàng".
Nói cách khác, bà ta nghĩ Đức Chúa Trời sẽ tiếp nhận bà ta vì bà ta về mặt cơ bản là một người nhơn đức. Bà ta nói đã đọc Kinh Thánh, nhưng bà ta chưa đọc Galati 2 nếu bà ta tin mình không làm điều chi sai quấy. Bà ta, một là thiếu hiểu biết, hoặc bất chấp sự thực Đức Chúa Trời phán nhiều lần trong Kinh Thánh rằng bà ta, giống như mọi người khác, đều là tội nhân và bà ta chưa tốt đủ hay trong sạch đủ để đẹp lòng Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta tìm cách đến với Đức Chúa Trời bằng sự nhơn đức riêng của mình thì chúng ta sẽ bị XÉT ĐOÁN chớ không “được xưng công bình” đâu!
John Stott viết về một người đang tìm cách tự xưng công bình: "Đây là tôn giáo của con người bình thường cả trước đây và từ giờ trở đi. Đây là tôn giáo của người sống trên đường phố hôm nay. Thực thế, đây là nguyên tắc cơ bản của từng tôn giáo và hệ thống đạo đức trong thế gian trừ ra Cơ đốc giáo theo Tân Ước. Nó phổ thông vì nó đang gây ra hy vọng hão. Nó nói với một người rằng nếu người ấy kéo đôi vớ cao lên hơn một chút, người ấy sẽ thành công trong việc có được sự cứu rỗi cho chính bản thân mình. Nhưng đấy là một sự lừa bịp đáng phỉ nhổ. Đó là lời dối trá to lớn nhất của kẻ chuyên nói dối chuyên nghiệp nhất mà thế gian từng nhìn biết, là ma quỉ, là kẻ mà Chúa Jêsus gọi là ‘cha của những kẻ nói dối’. Chẳng có ai được xưng công bình bởi các việc luật pháp bao giờ, vì lý do đơn giản, ấy là chẳng có ai giữ trọn được luật pháp cả".
Tôi thích câu chuyện kể về một người cha kia, ông đọc truyện tích Kinh Thánh cho cậu con trai mới có 5 tuổi nghe về Môise và 10 Điều Răn. Ông hỏi: "Con ơi, Đức Chúa Trời ban cho Môise bao nhiêu điều răn?" Cậu bé nhanh nhẩu đáp: "Nhiều lắm!" Cậu bé đáp đúng. Mười điều răn vĩ đại ấy là quá nhiều và quá khó cho bất kỳ ai trong chúng ta phải giữ lấy. Chúng ta không được xưng công bình bởi tuân giữ luật pháp vì chúng ta không thể tuân giữ được luật pháp.
D. Chúng ta chỉ có thể được xưng công bình bởi đức tin mà thôi.
Hãy xem lại chữ đầu tiên trong câu 16: "đã biết". Đây là điều mà Phaolô và Phierơ đã biết. Đây là điều mà chúng ta cần phải biết. Chúng ta cần phải biết rằng "người ta [không có ai] được xưng công bình, chẳng phải bởi các việc luật pháp [hay là một người nhơn đức] đâu, bèn là cậy ĐỨC TIN trong Đức Chúa Jêsus Christ".
Chúng ta không thể sống trọn lành trước mặt Đức Chúa Trời trừ ra Chúa Jêsus có thể. Ngài là Con của Đức Chúa Trời sanh bởi nữ đồng trinh. Ngài đã giữ luật pháp mà chúng ta không thể giữ được. Không những Ngài là người nhơn đức; mà Ngài còn trọn lành nữa. Ngài đã sống một đời sống trọn vẹn và rồi Ngài đã chết một cái chết có tính cách hy sinh. Ngài gánh lấy mọi thất bại, mọi lầm lỗi, mọi sai quấy, và mọi tội của chúng ta trên chính mình Ngài tại cây gỗ. Kinh Thánh chép trong Rôma 5.8: "Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết".
Phaolô nói về bản thân ông và Phierơ: "nên chính chúng tôi đã tin Đức Chúa Jêsus Christ, để được xưng công bình bởi đức tin trong Đấng Christ". Đây không phải là điều dành cho ai khác hay chỉ cho dân Ngoại đâu. Phaolô và Phierơ và nhiều người Do thái khác đã "tin" theo Chúa Jêsus. Họ đã đặt lòng tin cậy của họ nơi Ngài, chớ không đặt nơi tôn giáo để khiến họ làm hoà lại với Đức Chúa Trời.
Những gì là thực đối với Phaolô, Phierơ, người Do thái và dân Ngoại thời buổi ấy là thực đối với quí vị và tôi hôm nay. Nếu tôi muốn làm hoà lại với Đức Chúa Trời, nếu chúng ta muốn được tuyên bố mình không phạm tội hay “được xưng công bình”, thì chúng ta phải nhơn đức tin mà đến với Đức Chúa Trời.
Kevin Miller thuật lại câu chuyện kể về một thiếu nữ 16 tuổi từ vùng ngoại ô Chicago, cô gái lái xe lúc ban đêm với nhiều bạn bè, và cô ta đã cho xe lui đụng vào cây cột đèn. Cây cột bị gãy rồi ngã về đàng trước, đập vào đầu chiếc xe. Một người bạn 12 tuổi ngồi trong xe đã bị thương nặng; thế rồi nó bị chết não bộ khi đến tại bịnh viện. Một vị Mục sư trẻ tuổi tên là Michael đi bộ với gia đình của cô gái 12 tuổi kia đến để tìm biết sự thật và tìm cách cứu cô gái đó. Sáng hôm sau, Michael đến thăm tại phòng bịnh của cô gái lái xe 16 tuổi. Về thể xác, cô nầy đã hồi phục tốt, nhưng về tình cảm, cô ta đã bị quẫn trí khi biết được mọi hành động của mình đã giết chết người bạn kia. Cô nói với Michael: “Tôi sẽ làm con gái cho bố mẹ của bạn ấy. Tôi sẽ đi qua nhà của họ mỗi ngày và trông em hộ cho họ. Tôi sẽ rửa chén đĩa cho họ mỗi tối. Tôi sẽ qua đấy mỗi tuần và cắt cỏ sân cho họ". Michael từ từ giúp cho cô gái ấy nhìn biết sự thực rằng bất luận cô ta có làm gì đi nữa, cô ta sẽ không thể thay thế cho con gái của họ được. Cô ta sẽ không thể làm đủ để bao che cho mọi việc làm của mình. Mọi sự cô ta có thể làm là cầu xin sự tha thứ và hy vọng rằng bố mẹ sẽ thấy được vấn đề để tha thứ cho cô ta. Bố mẹ bị mất con gái kia, ngạc nhiên thay, đã tha thứ cho cô gái lái xe nầy. Cô ta được buông tha không phải trả một món nợ mà cô ta sẽ không bao giờ trả nổi dù cô ta có làm gì đi nữa.
Chúng ta mắc một món nợ mà chúng ta không thể trả nổi. Bất luận có bao nhiêu việc lành mà chúng ta đã làm, chúng ta không bao giờ khoả lấp được cho tội lỗi của mình. Chỉ khi chúng ta nhơn đức tin mà đến với Đức Chúa Trời, cầu xin sự tha thứ cho mọi tội của chúng ta và tin cậy nơi sự hy sinh mà Chúa Jêsus đã làm ra cho chúng ta trên thập tự giá để chúng ta có thể làm hoà lại với Đức Chúa Trời.
II. HÀNG RÀO NGĂN TRỞ thường xuyên của chúng ta là Luật pháp (các câu 17-18).
Hãy chú ý chữ "nhưng" ở phần đầu câu 17. Khi quí vị tranh luận với ai đó, quí vị bước vào bằng chữ “nhưng”. Quí vị nói: "Nhưng về…" Phaolô đang chặn trước sự bàn tán của người Do thái về luật pháp.
Đây là một câu khó, cho phép tôi giấu nó trong ngoặc kép: "Nếu Đức Chúa Trời xưng công bình hạng người xấu xa, thì làm lành để có mục đích gì chớ? Chúng ta không thể làm như chúng ta thích và sống như chúng ta muốn sao?" Nói cách khác: "Nếu chúng ta được xưng công bình hay được làm hoà lại với Đức Chúa Trời mà không cần giữ luật pháp hoặc trở thành hạng người nhơn đức thì chúng ta có thể phạm đủ thứ tội mà chúng ta muốn phạm. Nếu chúng ta không phải làm ra các việc lành mong đẹp lòng Đức Chúa Trời thì Đức Chúa Jêsus Christ đang khuyến khích tội lỗi của chúng ta".
Phaolô nhấn mạnh rằng: "Chẳng hề như vậy!" hoặc: "Đức Chúa Trời cấm" (theo bản Kinh Thánh KJV), tuyệt đối cấm! Chúa Jêsus không phải là "làm tôi của tội lỗi" đâu. Ngài không khiến chúng ta phải phạm tội, mà tha thứ tội lỗi chúng ta. Nếu tôi tin cậy nơi Chúa Jêsus song quay trở lại với đời sống cũ và phục theo mọi tội lỗi cũ của mình mà tôi thường phạm phải, ấy không phải là lỗi của Ngài mà là lỗi của tôi. Phaolô nói trong câu 17: "chính chúng tôi bị nhận là kẻ có tội".
Hãy suy nghĩ tới luật pháp giống như một cặp đường rầy đưa dân sự của Đức Chúa Trời đến nơi mà họ định đi. Đầu máy là ân điển của Đức Chúa Trời vận hành bởi Đức Thánh Linh. Các chỗ kết nối là đức tin. Những gì người Do thái làm đã hủy phá cặp đường rầy của Đức Chúa Trời (luật pháp). Họ dở các đường ray, đinh đóng đường ray và thanh đổi hướng và sử dụng chúng để làm một cái thang bắt lên tới tận trời. Việc làm nầy chẳng đi tới đâu hết.
Luật pháp chẳng hề cứu được ai. Chúng ta chú ý tới vấn đề nầy từng chi tiết trong vài tuần lễ, nhưng hãy chú ý 3.24: "Ấy vậy, luật pháp đã như thầy giáo đặng dẫn chúng ta đến Đấng Christ, hầu cho chúng ta bởi đức tin mà được xưng công bình". Nói cách khác, khi quí vị tìm cách tuân giữ 10 Điều Răn thì quí vị nhìn nhận rằng mình không thể giữ chúng được, quí vị phải nhơn đức tin mà quay về với Chúa Jêsus.
Một vị Mục sư thuật lại về việc đi đó đi đây bằng xe hơi cùng với gia đình vào buổi tối mùa hè kia. Đứa con trai 3 tuổi của ông, ngồi ở băng phía sau xe. Sau nhiều dặm đường lái xe trong bóng tối tăm, họ đến tại ngọn đèn đỏ trong một khu dân cư xa xôi nọ. Ánh sáng của ngọn đèn giao thông. Ánh sáng rực rỡ của ngọn đèn giao thông bày tỏ ra sự dơ bẫn, và các thứ côn trùng trên kính chắn gió. Cậu bé kia nói: "Nào, chúng ta quét sạch nó đi, đồ bẩn thĩu”. Vị Mục sư không suy nghĩ chi về lời nói của nó cho tới chừng một phút sau đó khi họ lái xe đi — cách xa ngọn đèn và trở lại với bóng tối tăm. Khi trở lại với bóng tối, ông ấy không còn nhìn thấy tình trạng dơ bẫn nữa trên kính chắn gió và đứa con ông mau mắn nói: "Bây giờ, tấm kính đã được sạch rồi!" Trước khi luật pháp đến, sự dơ bẫn bên trong chúng ta còn bị giấu dưới bóng tối tăm. Nhưng khi Đức Chúa Trời ban ra luật pháp, ánh sáng của nó chiếu trên tấm kính chắn gió của lòng chúng ta và bày ra sự dơ bẫn của tội lỗi mà chúng ta vướng phải trên chuyến hành trình của mình. Khi ấy, luật pháp là một ngọn đèn tỏ ra cho chúng ta thấy chúng ta thực sự tội lỗi là dường nào. Nó không thể thanh tẩy chúng ta hay làm cho chúng ta được sạch hết được. Nhưng nó làm nổi bật lên tình trạng thực của linh hồn chúng ta và nhơn đó dẫn chúng ta đến với Đấng Christ.
III. HY VỌNG duy nhứt của chúng ta đặt nơi thập tự giá (các câu 19-21).
A. Chúng ta phải chết đối với bản ngã.
Phaolô đưa ra một câu nói rất lạ ở trong câu 19. Ông nói: "Vả, bởi luật pháp, tôi đã chết cho luật pháp…". Một phim hoạt hoạ, có hai người ngồi trong phòng khách đang bận bịu với việc nghiên cứu Kinh Thánh. Một trong hai phụ nữ đó nói: "Tôi chưa thực chết đối với tội lỗi, nhưng tôi cảm thất ngột ngạt sao đó".
Khi vị sứ đồ nói rằng ông "bởi luật pháp chết cho luật pháp", ông có ý nói rằng khi cố tuân giữ luật pháp, ông nhận biết luật pháp chẳng có tác dụng chi hết. Ông đã cố gắng, song không thể tuân giữ được luật pháp. Ông có thể giữ một số điều luật nhưng chẳng giữ được hết luật pháp đâu. Có thể trong mọi sự ông đã làm theo rất đúng, nhưng trong đó ông đã làm sai ba điều. Ông đã viết về sự phấn đấu của mình ở Rôma 7.19: "vì tôi không làm điều lành mình muốn, nhưng làm điều dữ mình không muốn". Nghe có thuận tai không?
Ông đã thu thập đủ thứ thành tựu về tôn giáo, mọi học vị thần học, các giải thưởng trong khi phục vụ, tất cả những điều lành và rồi xem chúng chỉ là một đống phân (Philíp 3.8). Ông "đã chết" đối với chúng. Nói như vậy giống như ông đang nói: "Trong một thời gian dài tôi đã mang một chiếc mặt nạ, tôi cứ bám vào mọi thành tựu của mình rồi tìm cách gây ấn tượng với Đức Chúa Trời bằng những gì tôi đạt được và tôi nhơn đức như thế nào!?! Sâu lắng trong tôi, tôi biết mình là một tội nhân. Sau cùng, tôi lột bỏ chiếc mặt nạ rồi thành thực với lòng và với Đức Chúa Trời. Chỉ trong một phút thôi, khi tôi chết đối với bản ngã thì tôi mới thực sự sống cho Đức Chúa Trời".
Nhà cải chánh vĩ đại, Martin Luther đã có cùng kinh nghiệm ấy. Có lần ông đã viết: "Nếu từng có một thầy tu được vào thiên đàng do tu hành, tôi sẽ không được vào đó đâu; tất cả các anh em tôi sẽ làm chứng về điều đó. Vì nếu điều nầy cứ kéo dài mãi, tôi sẽ làm cho bản ngã tôi phải chịu chết với lời kinh cầu lúc ban đêm, những lời cầu nguyện, đọc sách cùng mọi việc làm khác nữa". Cảm tạ Chúa, ông đã khám phá ra hy vọng của ông đã đặt nơi Chúa Jêsus.
B. Chúng ta phải chết với Chúa Jêsus
Câu 20 có lẽ là câu hay nhất trong sách Galati. Đây là chiếc vương miện của cả quyển sách. Câu nầy cho biết hy vọng nơi Đức Chúa Jêsus Christ có ý nghĩa như thế nào!?!
Chúng ta đã học biết rồi, chúng ta không thể gây ấn tượng cho Đức Chúa Trời bằng cách sống nhơn đức, làm lành, tuân giữ luật pháp hay sống theo tôn giáo. Hết thảy chúng ta không với tới mục tiêu đó. Như vậy, chúng ta sẽ có hai vấn đề còn lại. Thứ nhứt, chúng ta có thể CHỊU THUA. Có nhiều người làm như thế. Họ hình dung, nếu tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời quá cao như thế, thì mục tiêu là gì? Nếu chúng ta không thể làm đẹp lòng Đức Chúa Trời bất luận điều chi chúng ta làm, vậy thì sao lại cố gắng chứ? Chúng ta sẽ làm theo những gì chúng ta mong muốn, ăn uống và sung sướng đi rồi ngày mai chúng ta sẽ chết. Buồn thay, có nhiều người đang sống theo cung cách nầy. Thứ hai, ấy là chúng ta có thể HY VỌNG TRONG ĐẤNG CHRIST. Cho phép tôi giải thích:
Phaolô "đã chết đối với luật pháp" nhưng ông cũng đã chết với Chúa Jêsus nữa. Ông nói trong câu 20: "Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ". Wow! Ông nói gì vậy? Phaolô không bị "đóng đinh vào thập tự giá" về phần xác. Ông không "chết” về mặt thuộc thể. Sự Chúa Jêsus bị đóng đinh trên thập tự giá đã xảy ra rất lâu trước khi Phaolô trở thành một Cơ đốc nhân. Điều ông muốn nói, ấy là bởi đức tin ông đã tiếp nhận sự chết của Chúa Jêsus trên thập tự giá vì cớ tội lỗi của ông. Khi ông thôi không tin cậy vào bản thân mình và khởi sự tin cậy Chúa Jêsus, ông đã chết đối với đời sống cũ của ông.
Hãy chú ý mệnh đề thứ hai trong câu 20: "mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi". Phaolô đã "chết" đối với đời sống cũ và giờ đây đang sống một đời sống mới. Khi một người nhơn đức tin đến với Đấng Christ, mọi sự đều thay đổi. II Côrinhtô 5.17 chép: "Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới".
Thật là một câu nói rất kín nhiệm, rất tuyệt vời! Tôi không còn là tôi như trước khi tôi gặp Chúa Jêsus nữa. Cái tôi cũ đã CHẾT C-H-Ế-T! Cái tôi mới hoàn toàn khác biệt. Không phải là tôi đổi tính hay luyện tập quyền phép làm thay đổi đâu. Không đâu, điểm khác biệt, ấy là "Đấng Christ sống trong tôi". Chúa Jêsus đang sống hôm nay, Ngài ngồi bên hữu của Đức Chúa Cha, nhưng Ngài còn sống ở trong tôi nữa. Sống "trong Đấng Christ" có nghĩa là Chúa Jêsus đang thể hiện sự sống của Ngài, những ưu tiên một của Ngài, và tình yêu của Ngài qua đời sống tôi. Cái tôi cũ đã chết và Chúa Jêsus đã cất bỏ nó đi!
C. Chúng ta phải sống bằng đức tin.
Bởi vì "Đấng Christ sống trong tôi" Phaolô nói: "nay tôi còn sống trong xác thịt [đời sống nầy tôi hiện đang sống đây] ấy là tôi sống trong ĐỨC TIN". Quí vị có theo kịp không? Chúng ta được cứu bởi đức tin chớ không phải bởi việc làm. Chúng ta sống bởi đức tin, chớ không phải bởi việc làm. Hiện nay tôi được cứu, phương thức duy nhứt tôi có thể làm đẹp lòng Đức Chúa Trời là bởi đức tin.
Hãy lắng nghe Stott một lần nữa: "Theo một ý nghĩa, chúng ta sống đời mới nầy nhơn đức tin trong Đấng Christ. Theo một ý nghĩa khác, ấy không phải chúng ta đang sống nữa, mà là Đấng Christ đang sống trong chúng ta. Và, khi sống trong chúng ta, Ngài ban cho chúng ta những ao ước mới về sự thánh khiết, về Đức Chúa Trời, về thiên đàng. Nói như thế chẳng phải là chúng ta không thể phạm tội nữa đâu; chúng ta có thể đấy. Nhưng chúng ta không muốn phạm tội. Toàn bộ lề thói hàng ngày trong đời sống chúng ta đều đã thay đổi. Bây giờ, mọi sự đều khác hẳn hết, vì bản thân chúng ta đã ra khác".
Sống bởi đức tin có nghĩa là tin cậy Chúa Jêsus từng giây phút một, sống trong mối tương giao thường trực. Vì "Đấng Christ sống trong tôi" tôi không hề sống một mình bao giờ. Qua sự hiện diện ở bên trong của Đức Thánh Linh, Ngài luôn luôn ở với tôi. Ngài không hề lìa khỏi tôi cũng không quên tôi. Khi tôi phạm tội, Ngài thuyết phục tôi. Khi tôi ngã lòng, Ngài yên ủi tôi. Khi tôi sai trái, Ngài dạy dỗ tôi. Khi tôi có cần, Ngài tiếp trợ cho tôi. Khi tôi yếu đuối, Ngài làm cho tôi được mạnh mẽ. Khi tôi kiêu ngạo, Ngài hạ tôi xuống. Khi tôi ở trong sự nghi ngờ, Ngài bảo đảm cho tôi. Ngài là MỌI SỰ đối với tôi!
Thế nào chứ? Tại sao điều nầy là sự thực? Bởi vì, như Phaolô nói: "Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu tôi, và đã phó chính mình Ngài vì tôi". Nếu Ngài chỉ yêu tôi mà không thể cứu giúp tôi, tôi sẽ chẳng có hy vọng gì hết. Nếu Ngài có thể cứu giúp tôi nhưng chẳng yêu thương tôi thì tôi vẫn còn sống trong vô vọng. Nhưng vì Ngài yêu tôi và sẵn lòng phó chính mình Ngài vì tôi, tôi có thể sống đời sống tôi trong sự tin cậy hoàn toàn và tuyệt đối nơi Ngài. Tôi thích lẽ thật đã được tỏ ra ở Rôma 8.32: "Ngài đã không tiếc chính Con mình, nhưng vì chúng ta hết thảy mà phó Con ấy cho, thì Ngài há chẳng cũng sẽ ban mọi sự luôn với Con ấy cho chúng ta sao?"
D. Chúng ta phải nhìn tới trước chớ không ngó lại sau.
Trong câu 21, bây giờ Phaolô nói sau khi đặt lòng tin cậy nơi Đấng Christ, chớ không đặt vào luật pháp hay các việc lành riêng của chúng ta, không quay trở lại và tìm cách gây ấn tượng cho Đức Chúa Trời bằng khả năng giữ luật pháp hay sống nhơn đức, sẽ làm cho "ân điển Đức Chúa Trời ra vô ích". Ông nói: "vì nếu bởi luật pháp mà được sự công bình, thì Đấng Christ chịu chết là vô ích". Nói cách khác, nếu tôi có thể làm đẹp lòng bằng cách sống nhơn đức, thì sự chết của Chúa Jêsus là vô mục đích.
Các Cơ đốc nhân người Do thái đã tin cậy nơi Đấng Christ nhưng giờ đây muốn quay trở lại với việc tuân giữ luật pháp chớ không nhìn biết Đấng Christ đã giữ luật thay cho họ rồi. Ngày nay, có nhiều người đem lòng tin cậy nơi Đấng Christ để được cứu, nhưng thay vì thưởng thức mối tương giao kỳ diệu của họ với Đấng Christ, họ lại quay sang tôn giáo. Họ tìm cách tuân giữ luật pháp, nghi thức và điều lệ do con người lập ra. Các việc nầy đã cướp đi khỏi họ sự vui mừng và đem đau buồn đến cho Chúa Jêsus.
Nếu tôi không thể gây ấn tượng với Đức Chúa Trời bằng các việc lành của tôi trước khi tôi được cứu, tôi sẽ không hề gây ấn tượng với Ngài bằng các việc lành sau khi tôi được cứu. Tôi không cần gây ấn tượng với Ngài. Tôi chỉ cần ân điển của Ngài mà thôi. Không có một việc gì tôi có thể làm sẽ khiến Ngài yêu thương tôi nhiều hơn hay ít hơn. Tôi đã được cứu trong quá khứ bởi ân điển của Ngài, ngày hôm nay tôi đứng vững trong ân điển của Ngài và hy vọng của tôi trong tương lai chính là ân điển của Ngài.
Một người săn vịt đã ở với người bạn của mình trong vùng đất rộng lớn ở miền đông nam Georgia. Xa xa ở đường chân trời, ông để ý thấy một đám mây khói bốc lên. Không lâu sau đó, ông có thể nghe thấy tiếng cơn gió vần vũ đến. Ông nhìn biết sự thực rất khủng khiếp, một ngọn lửa đang tới gần, nhanh đến nỗi họ không thể tránh được nó. Lục lọi trong mấy cái túi áo của mình, sau đó ông ta tìm thấy cái mà ông cần tìm – một quyển sách nói tới cách tránh thoát ngọn lửa. Ông ta đốt lên một ngọn lửa nhỏ ở quanh hai người. Không lâu sau đó, họ đã đứng trong một vòng tròn đen ngòm, chờ đợi ngọn lửa đến. Họ không phải chờ đợi lâu. Họ dùng khăn tay để che mồm mình lại và ôm lấy nhau. Ngọn lửa đến gần và lướt qua họ. Nhưng họ thì hoàn toàn không bị thương tích, không bị một thứ gì động đến. Ngọn lửa sẽ không đi qua ở chỗ mà ngọn lửa đã đi ngang qua rồi.
Luật pháp giống như một ngọn lửa vậy. Tôi không thể tránh né được nó. Còn nếu tôi đứng vững trong nơi đã từng bị thiêu đốt, thì chẳng một sợi tóc nào trên đầu tôi sẽ bị cháy xém. Sự chết của Đấng Christ là một chỗ đã từng bị thiêu đốt hoàn toàn. Tôi nằm rúc mình ở đó, chỉ tin thôi và được bình an. Luật pháp rất có quyền lực, thế mà lại vô quyền. Sự chết của Đấng Christ đã tước hết mọi tác hại của luật pháp.

Thứ Hai, 10 tháng 1, 2011

Galati 2.11-14: "Tự do hay thiên về với luật pháp?"



Tự do thực – Galati
Tự do hay thiên về với luật pháp?
Galati 2.11-14
Chuck Swindoll thuật lại một câu chuyện nói về thanh niên kia từng phục vụ trong một Hội thánh rất nghiêm ngặt với gốc rễ Scandinavian. Là một nhà lãnh đạo trẻ có óc sáng tạo và biết nhìn tới trước, anh cho nhóm thanh niên của mình xem một cuốn phim về truyền giáo. Chúng ta đang nói về cuốn phim tôn giáo đông phương, không có gì là sai trái hết. Máy chiếu phim đã tắt khoảng một giờ đồng hồ trước khi nhóm lãnh đạo trong nhà thờ gọi anh vào và tra hỏi anh đang làm việc gì thế? Họ hỏi: "Có phải anh cho nhóm thanh niên xem phim không?" Với mọi sự thành thực, anh đáp ngay: "Thưa phải, tôi cho họ xem phim". Họ nói: "Chúng tôi không thích như thế". Không muốn tranh luận, chàng trai trẻ kia đã lý luận như sau: "Phải rồi, tôi nhớ trong kỳ hội đồng vừa qua, Hội thánh chúng ta đã cho chiếu bằng đèn hình mà". Một trong các viên chức của Hội thánh đưa tay lên ra dấu cho anh nầy phải im lặng. Rồi với câu nói nầy, ông giải thích rõ ràng cuộc tranh chấp: "Nếu không có gì thì tốt. Còn nếu có chuyện gì thì là tội lỗi!" Quí vị ơi, quí vị có thể cho chiếu bằng đèn hình, khi họ cho chiếu phim quí vị sẽ rơi vào tội lỗi cho xem!
Có nhiều người chưa tin Chúa đang nhìn xem Cơ đốc nhân là một nhóm người làm điều lành có tâm trí hẹp hòi với các bản danh sách dài những điều nên và không nên làm. Mỉa mai thay, họ có một ấn tượng rất chính xác về nhiều người tự nhận mình yêu mến Đấng Christ. Có người cảm thấy họ đang làm công việc kê ra bảng danh mục các luật lệ cho những người còn lại chúng ta. Họ muốn bảo chúng ta nên ăn mặc như thế nào, phải chải tóc làm sao, phải xem cái gì, phải đọc cái gì, phải nghe loại nhạc nào và phải sống ra sao!?! Vấn đề, ấy là họ đang khuyến khích, thúc đẩy danh mục của họ, chớ không phải của Đức Chúa Trời đâu.
Sứ đồ Phaolô nói ra vấn đề nầy rất nhiều lần trong thơ Galati. Các giáo sư giả đã dạy những tín hữu thành Galati rằng muốn sống đẹp lòng Đức Chúa Trời họ phải chịu phép cắt bì và giữ mọi sự giải thích của họ về các nghi thức, điều răn và điều lệ của Cựu Ước. Phaolô dạy chúng ta rằng chúng ta đã được cứu là do ân điển của Đức Chúa Trời, chớ không phải bởi việc làm của chúng ta, bởi tin, chớ không phải bởi thành tựu.
Tôn giáo cung ứng cho chúng ta HÌNH THỨC THIÊN VỀ VỚI LUẬT PHÁP. Tôn giáo nói: "Hãy giữ giới luật của ta. Hãy làm theo mọi hướng dẫn của ta và nếu như các ngươi tốt đủ, Đức Chúa Trời sẽ tiếp nhận các ngươi". Đức Chúa Trời ban cho chúng ta SỰ TỰ DO. Chúa Jêsus phán: "Vậy nếu Con buông tha các ngươi, các ngươi sẽ thật được tự do" (Giăng 8.36).
Dứt bỏ sự tự do thuộc linh của chúng ta rồi bị lôi cuốn vào tôn giáo thiên về với luật pháp thì thật là dễ dàng. Điều nầy xảy ra ở bất cứ thời điểm nào. Thậm chí nó xảy ra với sứ đồ Phierơ, một trong những "cột trụ" của Hội thánh (2.9). Chúng ta hãy xem xét ba lẽ thật về sự tự do thuộc linh của chúng ta.
I. Tự do thuộc linh là sự làm cho vui mừng
A. Phierơ thăm viếng An-ti-ốt.
Phaolô bắt đầu nói: "Nhưng khi Sê-pha đến thành An-ti-ốt". Phaolô và Phierơ đã trở thành bạn đồng sự trong Tin lành. Phần lớn sự dạy nền tảng của Hội thánh đều xuất phát từ hai nhân vật nầy. Sách Công Vụ các Sứ Đồ được họ chia ra làm hai, phân nửa thứ nhứt chủ yếu là nói về Phierơ và phân nửa thứ hai là nói về Phaolô.
Theo Galati 1.18, trước tiên Phaolô đã gặp Phierơ "ba năm" sau khi ông gặp Chúa Jêsus trên con đường đến thành Đa-mách. Sau "ba năm" nghiên cứu trong xứ Arabi và giảng dạy tại thành Đa-mách, Phaolô "lên thành Jerusalem đặng làm quen với Sê-pha". Họ ở bên nhau trong "mười lăm ngày".
Khi Phaolô rời thành Jerusalem, ông không gặp Phierơ hay bất kỳ một sứ đồ nào khác nữa trong "mười bốn năm" (2.1). Lúc bấy giờ, ông "lại lên thành Jerusalem" để gặp gỡ các sứ đồ khác để trình bày sự dạy giả dối của những người theo giáo Giu-đa. Tại thành Jerusalem, Phierơ cùng các sứ đồ khác "đã thấy" hay khẳng định rằng Đức Chúa Trời "cảm động" trong Phaolô là một vị sứ đồ cho dân Ngoại y như Ngài đã "cảm động" trong Phierơ làm sứ đồ cho người Do thái (các câu 7-8). Khi ấy Giacơ, Phierơ và Giăng hết thảy đều là "cột trụ" (các giáo sư lỗi lạc) tại Hội thánh Jerusalem đã “trao tay hữu giao kết” với Phaolô và Banaba. Họ đang khẳng định chức năng cộng sự của họ trong việc rao giảng Tin lành. Thực vậy, Giacơ trong một bức thư gửi cho các Cơ đốc nhân dân Ngoại đã viết về họ là "Banaba và Phaolô yêu dấu của chúng tôi".
Công Vụ các Sứ Đồ 15.30 cho rằng sau giáo hội nghị tại thành Jerusalem, Phaolô và Banaba "đã đến tại thành An-ti-ốt" và đã "trao bức thư". Câu 35 chép: "Nhưng Phao-lô và Ba-na-ba ở lại tại thành An-ti-ốt, giảng Tin Lành và dạy đạo Chúa với nhiều người khác".
Một thời gian trôi qua và phân đoạn Kinh Thánh chúng ta nói: "nhưng Sêpha đến thành An-ti-ốt". Ông muốn gặp Phaolô và Banaba. Ông muốn nhìn thấy ơn và quyền của Hội thánh tại thành phố ấy. Ông đã đến tham gia vào việc giảng dạy và nhìn thấy công việc tốt lành của Chúa.
B. Phierơ đã ăn uống với các tín đồ dân Ngoại.
Câu 12 nói rằng khi lần đầu tiên Phierơ đến với An-ti-ốt "người ăn chung với người ngoại". Câu nói đơn sơ đó có âm vang dường như chẳng nhằm nhò gì với quí vị hết, nhưng đối với Phierơ đây là một bước quan trọng trong sự tự do thuộc linh.
Phierơ là một người Do thái. Ông đã chào đời và lớn lên trong xứ Israel dưới các chế độ luật lệ khe khắc và truyền khẩu của người Do thái. Toàn bộ đời sống của ông, ông đã tuân giữ các luật lệ nầy. Thực vậy, ông nói trong Công Vụ các Sứ Đồ 10.14: "Lạy Chúa, chẳng vậy; vì tôi chẳng ăn giống gì dơ dáy chẳng sạch bao giờ". Thậm chí sau khi Phierơ đã được cứu và đi theo Chúa Jêsus, ông vẫn còn theo các thói tục Do thái và cẩn thận không ăn bất cứ thứ chi không sạch.
Chúa Jêsus đã hủy bỏ chế độ luật lệ ấy. Ngài phán với Phierơ cùng các sứ đồ khác trong Mác 7.18-23: "Vậy chớ các ngươi cũng không có trí khôn sao? Chưa hiểu chẳng có sự gì ở ngoài vào trong người mà làm dơ dáy người được sao? Vả, sự đó không vào lòng người, nhưng vào bụng, rồi bị bỏ ra nơi kín đáo, như vậy làm cho mọi đồ ăn được sạch. Vậy, Ngài phán: Hễ sự gì từ người ra, đó là sự làm dơ dáy người! Vì thật là tự trong, tự lòng người mà ra những ác tưởng, sự dâm dục, trộm cướp, giết người, tà dâm, tham lam, hung ác, gian dối, hoang đàng, con mắt ganh đố, lộng ngôn, kiêu ngạo, điên cuồng. Hết thảy những điều xấu ấy ra từ trong lòng thì làm cho dơ dáy người".
Phierơ vốn biết rõ Chúa Jêsus đã buông tha cho ông được tự do ở ngoài các luật lệ của Cựu Ước cùng chế độ luật pháp. Thực vậy, Đức Chúa Trời đã làm sự ấy ra rõ ràng cho ông thấy. Chúng ta quay trở lại với Công Vụ các Sứ Đồ 10. Một thầy đội La mã tên là Cọt-nây từ Sê-ra-sê đến, ông ta được một thiên sứ dẫn dắt đến với Phierơ. Phierơ ở tại Giốp-bê, ngụ trong nhà của một thợ thuộc da. Ông ở trên mái nhà đang cầu nguyện lúc giữa trưa rồi rơi vào sự hôn mê. Trong các câu 11-12, chúng ta đọc ông "…Người thấy trời mở ra, và có vật chi giống như một bức khăn lớn níu bốn chéo lên, giáng xuống và sa đến đất: thấy trong đó có những thú bốn cẳng, đủ mọi loài, côn trùng bò trên đất, và chim trên trời". Câu 13 cho chúng ta biết ông đã nghe một giọng nói: "hỡi Phi-e-rơ, hãy dậy, làm thịt và ăn". Phierơ lấy làm kinh khủng. Ông nói: "Lạy Chúa, chẳng vậy; vì tôi chẳng ăn giống gì dơ dáy chẳng sạch bao giờ". Đức Chúa Trời phán cùng ông một lần nữa như sau: "Phàm vật chi Đức Chúa Trời đã làm cho sạch, thì chớ cầm bằng dơ dáy". Thực vậy, bối cảnh nầy đã được lặp lại "ba lần" để nhấn mạnh. Nếu quí vị tiếp tục đọc phần còn lại của chương, quí vị sẽ học biết rằng sự khải thị nầy là để sửa soạn cho Phierơ giảng Tin lành cho cả nhà dân Ngoại của Cọt-nây. Ở điểm nầy, Phierơ tưởng Tin lành chỉ dành để cho người Do thái, nhưng Đức Chúa Trời đang tỏ cho ông thấy rằng hễ ai và hễ cái gì Ngài đã làm cho sạch thì là sạch rồi. Về sau trong câu 34, chúng ta thấy Phierơ đã tiếp thu bài học. Ông nói: "Quả thật, ta biết Đức Chúa Trời chẳng vị nể ai".
Mặc dù Phierơ biết rõ mình đã có sự tự do thuộc linh và có thể ăn bất cứ thứ chi, ông đã không hề ăn…cho tới khi ông đến tại thành An-ti-ốt. Ở đó trong một Hội thánh dân Ngoại, với chẳng có một người Do thái tọc mạch nào ở chung quanh, Phierơ bắt đầu dùng thức ăn của người Ngoại và thấy thức ăn đó là ngon lành! Tôi đoán Phierơ đã thưởng thức thịt heo muối và xúc xích trong bữa điểm tâm. Có lẽ ông còn lấy miếng thịt heo quay để ăn trưa nữa. Quí vị biết ông đã dùng thịt sườn heo để ăn tối. Ông để mặt mình vào vĩ nướng thịt heo! Tôi đoán ông đã nướng thịt heo cho bữa ăn tối lúc nửa đêm!
Chắc chắn là các gia đình dân Ngoại sẽ mời Phierơ đến tại nhà họ và cùng ăn với họ. Họ đã ngồi quanh bàn ăn giống như chúng ta ngồi trong lúc bây giờ đây, trao đổi về các ơn phước của Chúa và vui hưởng sự dư dật của Ngài ở trên bàn. Các Hội thánh đầu tiên cũng "ưa thích các bữa tiệc" nhiều giống như những bữa cơm tối hiện đại hay các bữa ăn thân hữu. Mặc dù Phierơ đã dùng bữa bình thường với dân Ngoại, ông cũng dùng Tiệc Thánh với họ nữa.
Đúng là một sự vui mừng cho Phierơ khi gạt qua một bên các thành kiến xưa cũ rồi vui hưởng thức ăn và tình thân hữu của các tín đồ khác, dù họ là những người Ngoại.
C. Trong Đấng Christ, các tín đồ đang có sự tự do thuộc linh.
Trong cách ăn ở với Chúa của tôi lúc đầu, tôi đã nhận thấy Cơ đốc giáo là một danh sách những việc làm theo và không nên làm theo. Có các Cơ đốc nhân thật làm theo điều nầy và có những Cơ đốc nhân thật đừng làm theo điều kia. Tôi nghĩ hết thảy những người nam Cơ đốc đều có mái tóc ngắn, không có mái tóc để dài và phải thắt cà vạt khi họ đến với Hội thánh. Còn những người nữ Cơ đốc phải có mái tóc dài và mặc váy dài (dưới gối) và không bao giờ mặc váy ngắn trên gối.
Quí vị có thể đọc từ các bản dịch Kinh Thánh nhưng phải mang theo quyển KJV. Âm nhạc thích ứng trong Hội thánh phải kèm theo một chiếc dương cầm, một đàn organ, và phải hát các bài hát trong quyển thánh ca. Loại đàn tây ban cầm chỉ dành cho các tiệm nhảy rẻ tiền và các câu lạc bộ ban đêm, chớ không dùng cho sự thờ phượng.
Việc đáng cười, ấy là chẳng có một điều gì như thế ở trong Kinh Thánh! Sự việc thật là kỳ lạ, nhưng sự thực cho thấy rằng dân sự của Đức Chúa Trời thường xem trọng truyền khẩu của họ hơn là Kinh Thánh.
Donald Barnhouse đã viết về một Hội đồng được tổ chức vào năm 1928 ở Pennsylvania. Trong 200 người có mặt, đã số trong vòng họ hãy còn trẻ, có ít người lớn tuổi trong đám đông đó. Ngày kia có hai bà cụ đến gần ông than phiền rằng mấy cô gái trẻ không có mang vớ. Ông nhìn thẳng vào mắt họ rồi nói: "Nữ đồng trinh Mary không hề mang vớ". Họ há hốc miệng ra vì kinh ngạc: "Bà ấy không mang vớ sao?" Ông nói tiếp: "Trong thời của Mary, chẳng ai biết mang vớ cả. Theo như chúng tôi biết, trước tiên vớ được mang là do mấy cô gái điếm ở nước Ý vào thế kỷ thứ 15… Về sau có một phụ nữ quí tộc đã làm cho người ta phải gai mắt do mang vớ đến một sân bóng. Trước đó rất lâu, mọi người thuộc giới thượng lưu đã mang vớ và đến thời Nữ hoàng Victoria mang vớ đã trở thành một dấu hiệu cho thấy sự kịch cợm". Ông nói thêm: "Mấy bà nầy, cứ khư khư giữ theo thời thế của nữ hoàng Victoria, không có gì để nói nữa. Tôi không quở trách mấy cô gái vì không mang vớ. Một hai năm sau, hầu hết các cô gái ở Mỹ đều đi mà chẳng mang vớ vào mùa hè và chẳng có ai suy nghĩ chi về sự ấy nữa".
Mãi cho tới khi tôi bước vào chức vụ trọn thời gian, tôi mới bắt đầu nắm bắt được là mối giao thông của tôi với Đấng Christ không phải ở chỗ các bảng danh sách những việc nên làm và những việc không nên làm. Cho tới khi tôi đã trưởng thành, tôi bắt đầu hiểu ra sự tự do thuộc linh của mình. Sự công bình của Đấng Christ đã được áp dụng vào chính đời sống tôi. Đức Chúa Trời sẽ không yêu thương tôi hay chúc phước cho tôi nhiều hay ít hơn nếu tôi để tóc dài hay để tóc ngắn, nếu tôi hát các bài thánh ca hay hợp xướng, nếu tôi giảng đạo với một chiếc cà vạt hay mặc chiếc áo T-shirt hoặc tôi hát với cây đàn guitar hay với chiếc organ!
Chúa Jêsus buông tha chúng ta để khiến cho chúng ta phải ở ngoài luật pháp, là sự tự do thực. Luật pháp duy nhứt của chúng ta chính là “luật pháp của Thánh Linh". Roma 8.2 chép: "vì luật pháp của Thánh Linh sự sống đã nhờ Đức Chúa Jêsus Christ buông tha tôi khỏi luật pháp của sự tội và sự chết".
Phierơ đã thực thi sự tự do thuộc linh của mình với sự vui vẻ! Cũng một thể ấy mỗi Cơ đốc nhân đều phải bước đi "theo cách mới của Thánh Linh, chớ không theo cách cũ của văn tự" (Roma 7.6).
II. Tự do thuộc linh là đang lo sợ.
A. Một số người Do thái lên từ thành Jerusalem.
Phaolô nói cho chúng ta biết trong câu 12 rằng: "mấy kẻ của Giacơ sai đi chưa đến". Giacơ là "anh em của Chúa" và bây giờ là Mục sư chủ toạ của Hội thánh Jerusalem. Phaolô đã gặp ông theo cách riêng khi ông lên thành Jerusalem lần đầu tiên (1.19). Ở giáo hội nghị thành Jerusalem, Giacơ đã nói: "Vậy, theo ý tôi, thật chẳng nên khuấy rối những người ngoại trở về cùng Đức Chúa Trời" (Công Vụ các Sứ Đồ 15.19). Ông đã giúp tác giả bức thư đã mô tả Phaolô là "rất yêu dấu" (câu 25) và đã "trao tay hữu giao kết" với Phaolô (Galati 2.9). Họ là những Cơ đốc nhân người Do thái, xuất thân từ Hội thánh Jerusalem.
Nếu quí vị cần chuyển qua phần khác trong xứ và đến thăm Hội thánh khác dưới quyền chủ toạ của một người bạn của tôi, quí vị sẽ nói: "Tôi đến từ Hội thánh của Mục sư Coy và ông ấy gửi lời chào thăm quí vị". Tôi nghĩ rằng đấy là những gì Phaolô muốn nói khi ông nói họ do "Giacơ sai đến".
B. Phierơ tự biệt riêng ra đối với dân Ngoại.
Khi số người khách Do thái nầy đến nơi. Có một việc đã xảy ra cho Phierơ. Phaolô nói trong câu 1: "người lui đứng riêng ra" đối với các Cơ đốc nhân dân Ngoại. Khi ông nghe nói có mấy người Do thái đã đến, Phierơ đã cẩn thận tẩy rửa hết mọi thứ nước chấm còn dính nơi râu của mình. Rõ ràng là ông không muốn họ nhìn biết ông đã ngồi ăn với dân Ngoại. Ông không muốn họ nhìn biết ông đã thực thi sự tự do thuộc linh của mình và phớt lờ các chế độ theo luật lệ của người Do thái.
"Lui" ra từ một chữ Hy lạp được sử dụng để nói tới sự triệt thoái có tính chiến lược về mặt quân sự, lui lại tránh kẻ thù để nương náu và được an toàn. Giống như những người lính thủy buộc phải rút lui trong lạnh giá để tránh đụng độ ở Bắc Hàn vào mùa đông năm 1950, Phierơ đã lui ra khỏi bàn của người dân Ngoại. Ông đã từ từ, thận trọng, thôi không giao thông quanh co với các anh em dân Ngoại nữa. Thì động từ chưa hoàn thành cho thấy đây là một sự rút lui tiệm tiến, có chủ ý, lén lút.
Khi người Do thái xuất hiện, Phierơ đã tránh né những người Ngoại. Một anh em dân Ngoại nói: "Ô kìa Phierơ, hãy đến nhà chơi lúc 7 giờ, tôi sẽ đặt thêm mấy miếng sườn heo mà ông thích nướng trên vĩ nhé" . Quí vị có nhìn thấy Phierơ không? Ông đang nhìn quanh, hy vọng chẳng có ai nghe thấy. Ông đang thì thào: "Cảm ơn, nhưng tôi có hẹn rồi". Ở bữa tiệc kia, Phierơ chỉ đặt thức ăn theo chế độ lên trên đĩa của mình. Một chị em dân Ngoại nói: "Anh Phierơ ơi, hãy đến đây ngồi với chúng tôi. Anh dùng thử món cua salad tươi nầy nhé!" Phierơ giả vờ như ông không nghe thấy và ngồi với mấy gã đến từ thành Jerusalem. Trong suốt bữa Tiệc Thánh, ông ngồi bên phía người Do thái và chẳng thèm liếc nhìn qua phía người Hy lạp.
C. Phierơ sợ vì danh tiếng của ông.
Phaolô nói ở cuối câu 12 rằng Phierơ đã "sợ những kẻ chịu phép cắt bì".
Đây là Phierơ xưa, người đã nói rằng Chúa Jêsus là "Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hằng sống" nhưng rồi lại "trách Chúa" vì đã nói trước sự chết, sự chôn và sự sống lại của Ngài. Đây là Phierơ xưa, là người đã nói mình không bao giờ bỏ Chúa nhưng lại chối Ngài đến ba lần. Đây là Phierơ xưa, là người đã trông thấy Đấng Christ phục sinh, nhưng đã quay trở lại với nghề đánh cá.
Phierơ vốn quan tâm nhiều tới danh tiếng của mình giữa vòng các Cơ đốc nhân người Do thái hơn là ông quan tâm tới sức khoẻ thuộc linh của các Cơ đốc nhân dân Ngoại. Ông rất sợ mất lòng người ta và uy tín tại thành Jerusalem mà ông đã từng có được, ông đã sống giống như một người Ngoại vậy.
D. Phierơ khiến cho nhiều người khác phải vấp ngã.
Trong nổ lực hầu làm đẹp lòng "những kẻ chịu phép cắt bì", là người Do thái, Phierơ đã thôi không thể hiện một chuỗi hành động giả hình nữa. Khi ông từ chối dân Ngoại, nhiều người khác cũng đã làm theo y như thế.
Phaolô nói trong câu 13: "Các người Giu-đa khác cũng dùng một cách giả dối như vậy, đến nỗi chính Ba-na-ba cũng bị sự giả hình của họ dẫn dụ". Những người Do thái khác, là thuộc viên tại Hội thánh An-ti-ốt đã bắt đầu noi theo sự lãnh đạo của Phierơ. Từ từ họ tự biệt riêng ra đối với các bạn hữu dân Ngoại. Trước đó lâu lắm, đã có một sự phân chia ngay giữa Hội thánh. Người Do thái ở phía bên nầy và người dân Ngoại ở phía bên kia.
Phaolô đã nói "ngay cả Banaba" cũng bị "sự giả hình" của Phierơ dẫn dụ nữa. Sao thế Banaba? Là người bạn đồng hành thường trực của Phaolô, một đặc phái viên khác từ giáo hội nghị đã đầu hàng người Do thái. Chỉ một mình Phaolô đứng ở giữa Hội thánh đã rơi vào chỗ chia hai.
Hãy tưởng tượng các Cơ đốc nhân dân Ngoại đáng thương kia đã cảm nhận như thế nào!?! Phierơ khi ấy là một nhân vật rất nổi tiếng. Họ rất cảm động khi thấy ông ngồi ăn trong nhà của họ cùng vui hưởng mối giao kết của họ. Còn bây giờ, ông chẳng biết tới và lẫn tránh họ. Các bạn hữu khác với lai lịch Do thái đã bắt đầu hành động theo cùng một cách thức ấy. Các Cơ đốc nhân dân Ngoại đáng thương nầy không nghi ngờ chi nữa đã bị tổn thương và xúc phạm. Có lẽ ai đó đã giận dữ rồi rời khỏi Hội thánh. Có người nghĩ họ sẽ khởi sự giữ theo luật pháp Cựu Ước và chịu phép cắt bì hầu cho họ sẽ được tiếp nhận đối với các Cơ đốc nhân người Do thái.
Đúng là tình trạng đáng buồn khi một Hội thánh bị phân chia bởi các nghi thức, chủng tộc, giai cấp hay phe nhóm! Đúng là một bầu không khí rất kinh khủng khi một Cơ đốc nhân chối bỏ hay lẫn tránh Cơ đốc nhân khác vì người nầy không thuộc vào nhóm của người kia! Ồ, điều nầy đã làm buồn Thánh Linh của Đức Chúa Trời là dường nào! Chẳng có một quyền phép thuộc linh nào trong một Hội thánh như thế. Phục hưng là vô vọng! Truyền giáo là thua trắng luôn! Việc môn đồ hoá là không thể đạt được. Phaolô đã viết trong Êphêsô 4.3 rằng chúng ta cần phải "dùng dây hòa bình mà giữ gìn sự hiệp một của Thánh Linh".
Trước khi được cứu, hết thảy chúng ta đều là tội nhân. Sau khi được cứu, hết thảy chúng ta đều là hạng thánh đồ. Trong con mắt của Đức Chúa Trời chúng ta đều y như nhau. Có một thân thể và một Chúa mà thôi. 3.26 chép: "Vì chưng anh em bởi tin Đức Chúa Jêsus Christ, nên hết thảy đều là con trai của Đức Chúa Trời". Câu 28 chép: "Tại đây không còn chia ra người Giu-đa hoặc người Gờ-réc; không còn người tôi mọi hoặc người tự chủ; không còn đàn ông hoặc đàn bà; VÌ TRONG ĐỨC CHÚA JÊSUS CHRIST, ANH EM THẢY ĐỀU LÀM MỘT"
E. Thực thi sự tự do thuộc linh của quí vị là rất mạo hiểm.
Phierơ đã từng tìm được sự tự do thuộc linh của mình với thái độ rất phấn khởi, giờ đây ông thấy sợ hãi nó. Không nghi ngờ chi nữa, ông đang suy nghĩ: "Nếu họ tìm ra tại thành Jerusalem ta là kẻ thích ăn da heo, ta đã bị hủy hoại rồi!" Khi "sợ những kẻ chịu phép cắt bì" ông đã "lui đứng riêng ra" khỏi mấy cái bàn của người dân Ngoại. Phierơ để cho người khác đề ra các giới hạn trên sự tự do thuộc linh của ông.
Đúng là sợ hãi và mạo hiểm khi dở những bước chân đầu tiên hướng tới sự tự do về mặt thuộc linh. Người ta thường nghĩ gì nếu tôi giơ tay lên trong sự thờ phượng Đức Chúa Trời? Họ sẽ nói gì nếu tôi hô lên: “Ha-lê-lu-gia”? Họ cảm nhận về tôi ra sao nếu tôi mua một chiếc xe gắn máy rồi để tóc dài? Quí vị để cho người khác giới hạn sự tự do quí vị có trong Đấng Christ theo chiều hướng nào?
Bị gò bó trong các điều lệ và truyền khẩu do con người lập ra được gọi là thiên về với luật pháp. Tôi thích điều mà Max Lucado từng nói: "Thiên về với luật pháp không có lòng thương xót trên bất cứ ai. Thiên về với luật pháp biến quan điểm của tôi thành gánh nặng của bạn, biến ý tưởng của tôi thành lằn ranh của bạn, biến điều tôi suy nghĩ thành bổn phận của bạn".
III. Tự do thuộc linh rất là quí báu.
A. Phaolô mặt đối mặt chống cự Phierơ.
Trở lại với câu 11 và nhìn thấy câu Phaolô nói về Phierơ: "tôi có ngăn can trước mặt người, vì là đáng trách lắm". Phaolô đã chống cự Phierơ. Phaolô đã quở trách Phierơ. Ông đã phản ảnh tận mặt Phierơ vì Phierơ “rõ ràng là phạm sai lầm” (bản dịch NIV).
Mặc dù Phierơ là một sứ đồ, ông chưa được trọn vẹn đâu. Ông phải chịu quở trách khi ông phạm sai lầm. Mặc dù Phierơ là một "cột trụ" trong Hội thánh, ông không tránh khỏi việc tìm kiếm lợi ích riêng và sa vào tội lỗi. Còn tệ hại hơn nữa, ông đang kích thích nhiều người khác làm theo với ông.
Có những người dạy rằng sau khi người ta chịu một “phép báptêm thuộc linh” hay một "ơn phước thứ hai", người ấy đang sống cao hơn tội lỗi. Trong khi sống như vậy, họ quên phứt đi Phierơ. Phierơ vốn có phép báptêm trọn vẹn vào ngày Lễ Ngũ Tuần. Ông đã chứng kiến nhiều thứ tiếng lạ mà ông chưa hề học qua. Khi ông giảng đạo, 3000 người được cứu và đã chịu phép báptêm. Tuy nhiên, ở đây ông đang làm phân rẻ một Hội thánh và đang vặn cong tin lành ân điển vì ông mãi bận tâm với danh tiếng riêng của ông.
B. Phaolô chiến đấu cho lẽ thật của Tin lành.
Trong câu 14, Phaolô nói: "Nhưng khi tôi thấy họ không đi ngay thẳng theo lẽ thật của Tin Lành, thì nói với Sê-pha trước mặt mọi người rằng…". Đây không phải là một buổi nhóm riêng tư, mà là một buổi nhóm chung hết. Hãy để ý "trước mặt mọi người""trước mặt người" (câu 11).
Phaolô đã từ chối không bị "ép" phải làm phép cắt bì cho Tít "hầu cho lẽ thật của Tin lành được vững bền với anh em" (các câu 3, 5). Bây giờ vì "họ không đi ngay thẳng theo lẽ thật của Tin lành" và vì mọi hành vi của họ "ép" người dân Ngoại phải "theo thói Giu-đa" hay theo chế độ tuân giữ các luật lệ (câu 14), Phaolô đã quở trách Phierơ.
Chẳng một giây phút nào Phaolô chịu đầu hàng trước việc thiên về với luật pháp. Ông không để một giây phút nào cho phép các tín hữu dân Ngoại phải nghĩ rằng họ cần phải thêm điều chi đó vào đức tin của họ nơi Đấng Christ. Sự cứu rỗi khi ấy và ngay bây giờ không phải là do thành tựu mà là do tin mà thôi, ân điển của Đức Chúa Trời chẳng phải thêm vào một thứ gì khác cả!
Nếu Tít phải chịu phép cắt bì tại thành Jerusalem, nếu các Cơ đốc nhân dân Ngoại tại thành An-ti-ốt phải tuân thủ chế độ giữ luật pháp mới hưởng được mối giao thông trọn vẹn trong thân thể của Đấng Christ, thế thì ân điển của Đức Chúa Trời chẳng có hiệu lực chi hết và Đấng Christ đã chịu chết trong hư không. Chúng ta sẽ khảo sát câu 21 trong từng chi tiết vào tuần tới, nhưng hãy cùng tôi đọc lại câu ấy hôm nay: "Tôi không muốn làm cho ân điển Đức Chúa Trời ra vô ích [vô hiệu]; vì nếu bởi luật pháp mà được sự công bình, thì Đấng Christ chịu chết là vô ích".
C. Ba con dã thú muốn cắn nuốt sự tự do thuộc linh của quí vị.
+ Dã thú #1. SỢ HÃI. Sự Phierơ sợ cái điều mà Cơ đốc nhân người Do thái suy nghĩ, nói hay làm đã giữ ông không dám thực thi đầy đủ sự tự do thuộc linh và khiến cho ông dẫn dắt nhiều người khác phải sai lạc. Sợ hãi không nằm trong sự đồng bộ với Tin lành. II Timôthê 1.7 chép: "Vì Đức Chúa Trời chẳng ban cho chúng ta tâm thần nhút nhát, bèn là tâm thần mạnh mẽ, có tình thương yêu và dè giữ". Châm ngôn 29.25 chép: "Sự sợ loài người gài bẫy; Nhưng ai nhờ cậy Đức Giê-hô-va được yên ổn vô sự". Nếu quí vị đến đây hôm nay với sợ hãi, lo âu và nãn lòng, quí vị cần phải có cái nhìn khác nơi tin lành. Roma 8.31-34 chép: "Đã vậy thì chúng ta sẽ nói làm sao? Nếu Đức Chúa Trời vùa giúp chúng ta, thì còn ai nghịch với chúng ta? Ngài đã không tiếc chính Con mình, nhưng vì chúng ta hết thảy mà phó Con ấy cho, thì Ngài há chẳng cũng sẽ ban mọi sự luôn với Con ấy cho chúng ta sao? Ai sẽ kiện kẻ lựa chọn của Đức Chúa Trời: Đức Chúa Trời là Đấng xưng công bình những kẻ ấy. Ai sẽ lên án họ ư? Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng đã chết, và cũng đã sống lại nữa. Ngài đang ngự bên hữu Đức Chúa Trời, cầu nguyện thế cho chúng ta".
+ Dã thú #2. GIẢ HÌNH. Hai từ "giả dối""giả hình" trong câu 13 có ý nói tới một kịch sĩ đang mang chiếc mặt nạ. Ông ta giả vờ đóng vai một người hay một việc mà thực sự ông ta không phải là như vậy. Phierơ đã giả vờ tin theo chế độ tuân giữ luật pháp của người Do thái khi tấm lòng ông không muốn thế. Giả dối luôn luôn dựa vào sự bất an. Bất an khiến cho chúng ta không đứng vững trước những gì chúng ta tin là đúng đắn. Khi quí vị cảm thấy bất an và bị cám dỗ phải thoái thác hay lẫn tránh chỗ đứng trước những gì quí vị đang tin theo, quí vị đang đánh một trận để tin theo tin lành. Tin lành bảo đảm cho chúng ta về tình yêu thương và sự tiếp nhận của Đức Chúa Trời. Chúa Jêsus đã chủ động chịu khổ vì chúng ta. Ngài có thể đương đầu với và cứu lấy mạng sống của Ngài, nhưng Ngài đã không làm thế. Thi thiên 56.11 chép: "Tôi đã để lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời, ắt sẽ chẳng sợ chi; Người đời sẽ làm chi tôi?"
+ Dã thú #3. THIÊN VỀ VỚI LUẬT PHÁP. Với tư thế giảng dạy, Phaolô nói với Phierơ: "Hành động nói lớn tiếng hơn cả lời nói. Khi ông là sứ đồ mà thôi không giao thông với các tín hữu dân Ngoại vì cớ chế độ tuân giữ luật pháp, ông còn đem Banaba và những người Do thái khác theo với ông. Giờ đây những người dân Ngoại nghĩ họ chưa phải là Cơ đốc nhân thực sự nếu như họ chưa trở thành người Do thái". Thiên về với luật pháp buộc người ta những việc mà Đức Chúa Trời không buộc. Nếu quí vị đến đây cố gắng làm đẹp lòng Đức Chúa Trời bằng cách tuân giữ một danh sách những việc nên và không nên làm, quí vị chẳng có đụng chạm gì với Tin lành cả. Đức Chúa Trời tiếp nhận chúng ta bởi ân điển chớ không phải bởi việc làm, bởi tin theo chớ không phải bởi thành tựu.
Thiên về với luật pháp không có hiệu lực chi hết. Hầu hết những ai muốn làm cho bảng danh sách các điều lệ của họ có hiệu lực trên người khác, chính họ lại thường không tuân giữ ngay các điều lệ của họ.
Có một câu chuyện xưa nói về một Hội thánh da đen kia, ở đó có một phụ nữ đứng ở bao lơn, chiếc áo đầm của người nầy bị vướng vào lan can, và khi chị ta gỡ ra, chị bị mất thăng bằng và té ngã, bị rách chiếc váy ấy. Nhà truyền đạo, nhìn thấy ý định của chị kia, bèn la lên: "Hãy nghe đây, thưa quí ông, quí ông đừng nhìn vào cô ấy! NẾU CÓ AI TRONG QUÍ ÔNG NHÌN, QUÍ ÔNG SẼ BỊ MÙ CHO XEM!" Một trong các ông ngồi trong hội chúng thoi vào người bạn của mình rồi nói: "Tôi không biết anh như thế nào, nhưng tôi nghĩ tôi có cơ hội tận dụng con mắt bên trái của tôi!"